Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

110108- Sơn Đoòng- dưới ống kính Nationnal Geographic

Mới đây, tạp chí National Geographic của Mỹ đã giới thiệu một bộ ảnh đặc sắc về hang Sơn Đoòng, hang động tự nhiên lớn nhất thế giới nằm trong quần thể hang động Phong Nha - Kẻ Bàng ở tỉnh Quảng Bình của Việt Nam. Bộ ảnh được thực hiện bởi nhà thám hiểm kiêm nhiếp ảnh gia Carsten Peter.

Với những hình ảnh về vườn địa đàng trong lòng hang, bức tường thạch nhũ khổng lồ hay bộ sưu tập “ngọc trai” hàng vạn năm tuổi, người xem đã phải sửng sốt với sự kì vĩ đến khó tin của hang Sơn Đoòng

                      

Hiện nay, lối duy nhất để thâm nhập hệ thống hang động là leo xuống bằng dây thừng từ vách hang Loọng Con, cao khoảng 80m

                    

Những cột thạch nhũ có hình thù kì dị trên nền hang Loọng Con. Địa điểm này được các nhà thám hiểm gọi là Vườn xương rồng        

 

                    

                    Các nhà thám hiểm đang bơi dưới một cột thạch nhũ khổng lồ trong hang Kén

                 

Một đoạn hang có bề rộng khoảng 90m, vòm hang cao gần 250m, đủ sức chứa một tòa nhà cao 40 tầng của thành phố New York (Mĩ).

                

Một vòm hang sụp đổ từ cách đây rất nhiều năm đã đưa ánh sáng vào, tạo nên một cánh rừng nhiệt đới kì vĩ ngay trong lòng hang. Những nhà thám hiểm gọi đây là Vườn địa đàng.

              

Các thành viên đoàn thám hiểm thâm nhập hang Én, một hang động ngầm được rạo ra bởi sông Rào Thương. Vào mùa khô lòng sông thu hẹp thành các ao nhỏ, nhưng đến mùa mưa có thể dâng cao hàng chục mét

             

Khoảng không gian thu hẹp lại giữa hang. Dòng chảy của con sông đã mang đến những chiếc vỏ sò, tích tụ thành lớp trên lòng sông

             

Giống như một thác nước hóa đá, những dải thạch nhũ gần cửa hang Én mang màu xanh của rêu và tảo

              

“Dù những hang động là rất lớn, nhưng chúng gần như là ‘vô hình’ cho đến khi bạn bạn bước đến rất gần”, Mark Jenkins, thành viên đoàn thám hiểm nhận xét. Những người thợ săn địa phương đã tìm thấy các hang động bởi luồng gió thổi lên từ lòng đất

             

Nơi nào ánh sáng chiếu vào hang, nơi đó được bao phủ bởi màu xanh của cỏ cây. Ở khu rừng dưới vòm hang bị sụp, các nhà thám hiểm đã thấy sự xuất hiện của các nhiều loại động vật như chim, rắn, sóc, khỉ

             

Qua hàng vạn năm, tinh thể canxi đã bao bọc những hạt cát nhỏ để tạo thành những “viên ngọc trai” khổng lồ. “Bộ sưu tập ngọc trai” vô giá này nằm cách không xa Vườn địa đàng trong lòng hang

             

Các nhà thám hiểm đang vượt qua những “tác phẩm điêu khắc” hoàn mỹ của thiên nhiên, phủ đầy rêu trơn trượt

           

Thách thức lớn nhất dành cho đoàn thám hiểm là một bức tường nhũ đá cao khoảng 70m chắn ngang ở độ sâu hơn 6km trong lòng hang Sơn Đoòng

          

Chưa thể vượt qua trở ngại này, các nhà thám hiểm đã đánh dấu mốc ghi nhớ và tiến hành đo mực nước ngầm dâng lên trong mùa lũ. Họ hi vọng phía sau bức tường thạch nhũ sẽ là một hang động lớn với nhiều bất ngờ đang chờ đợi

           

Mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 là khoảng thời gian an toàn để các nhà thám hiểm khám phá hang Kén, với những ao nước nhỏ trên nền hang khô. Vào mùa mưa, dòng nước sẽ nhấn chìm nhiều đoạn hang.

nguồn: http://edu.goonline.vn/e-tap-chi/tin-bai/10/71/191/3485/son-doong-de-nhat-dong-duoi-ong-kinh-nationnal-geographic.html

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

DL qua ảnh: Văn Miếu- Quốc tử giám (ảnh TLV)




Văn Miếu– Quốc Tử Giám nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lý. Trước kia là nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ (là Trạng nguyên VN) và thu nhận cả các học trò giỏi. Nay là nơi tham quan của người trong và ngoài nước và nơi khen tặng quà cho học sinh thi đỗ điểm cao và học giỏi xuất sắc và còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi
Lịch sử
Văn Miếu được xây dựng từ "tháng 8 năm Canh Tuất (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. "Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử giám, có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.

Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử. Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ Tiến sỹ từ khóa thi 1442 trở đi.

Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái học.
Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.

Kiến trúc
Nhà Thái học sinh đời Lý - Trần quy mô thế nào, hiện chưa khảo được, vì các tư liệu lịch sử đã bị giặc Minh đốt hoặc đưa hết về Yên Kinh, tức Bắc Kinh ngày nay.

Tuy nhiên, nhà Thái học sinh thời nhà Lê đã được Lê Quý Đôn miêu tả trong "Kiến văn tiểu lục" thì : "Nhà Thái học có ba gian, có tường ngang, lợp bằng ngói đồng. Nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người". Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch Bát Tràng.
Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn miếu thờ Khổng Tử ở quê hương Khúc Phụ - Sơn Đông - Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.

Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.
Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia "Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ xưa.

Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau:
Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đại Tài Môn.
Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn Các (xây năm 1802). Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85 cm x 85 cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời toả tia sáng. Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú cua bầu trời toả xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đây là nơi thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sỹ.

Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là khu nhà bia Tiến sỹ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sỹ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện còn 82 tấm bia về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779.

Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung.
Khu thứ năm: là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ khổng Tử, liên hệ với khu vực thứ 4 qua Khải Thành môn. Khu này mới được xây dựng lại.

Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tủ, Tử Tư, Mạnh Tử). Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp Hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
Nguồn từ Wikipedia.

110106- Khổ vì làng cổ, phố cổ- Kỳ 2: Phố cổ...bị treo

Phố cổ Bao Vinh hiện nay chẳng còn gì ngoài vài mái nhà cổ - Ảnh: THÁI LỘC

Hai khu phố cổ Gia Hội và Bao Vinh nằm ngay sát kinh thành Huế đang trong tình cảnh lụi tàn, dù đã được ban hành kế hoạch bảo tồn từ bảy năm trước.

Phố cổ Bao Vinh nằm về phía bắc ngoài kinh thành Huế, là một thương cảng của thủ phủ xứ Ðàng Trong giai đoạn thế kỷ 18 và cũng là thương cảng của kinh thành Phú Xuân vào đầu thời nhà Nguyễn.

Khu phố cổ Gia Hội - Chợ Dinh nằm ở phía đông ngoài kinh thành, là khu vực sầm uất bậc nhất xứ kinh đô Huế đầu thế kỷ 19. Năm 2003, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã phê duyệt quy hoạch xây dựng bảo tồn và phát huy đô thị cổ Bao Vinh trên diện tích 8ha. Kế đến là phê duyệt quy hoạch chi tiết khu đô thị cổ dọc trục đường Chi Lăng (còn gọi là khu Gia Hội - Chợ Dinh) rộng 30,66ha.

“Cấn cái quyết định”

Từ trước đó, năm 2002, tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thành lập ban điều hành và bảo vệ phố cổ, do ông Phạm Quốc, lúc ấy là chủ tịch phường Phú Cát (hiện là bí thư phường), làm trưởng ban. UBND tỉnh cho lập phố ẩm thực bên bờ sông Ðông Ba, cạnh cầu Gia Hội, cùng với việc đưa tour tham quan phố cổ Gia Hội phục vụ du khách tại Festival Huế 2002 khiến nhiều người dân khấp khởi mừng thầm.

Ðến năm 2003, tỉnh tiếp tục phê duyệt hai đề án bảo tồn phục hồi hai khu phố cổ nói trên khiến người dân Huế xem như cứu tinh trước sự lụi tàn của chuỗi giá trị văn hóa phố thị rất đặc trưng. Hai khu phố cổ Bao Vinh và Gia Hội lúc này cơ bản vẫn còn nguyên hình hài với những nhà mái ngói liệt liêu xiêu chồng lên nhau xếp thành dãy dài. Thế nhưng sau bảy năm quyết định phê duyệt, hình ảnh hai khu vực phố cổ này hoàn toàn khác.

Theo thống kê của UBND xã Hương Vinh, từ những năm 1990 cụm Bao Vinh còn 39 nhà cổ thì đến nay chỉ còn 15 nhà. Phần lớn trong số 24 nhà cổ mất đi được thay thế bằng nhà tầng kiên cố với lối kiến trúc mới. Ông Nguyễn Văn Bổn - chủ tịch UBND xã Hương Vinh - cho biết kể từ ngày ban hành quyết định bảo tồn, ngoài số tiền 411 triệu đồng do Thượng viện Pháp tài trợ tu bổ ba ngôi nhà, hoàn toàn không có sự đầu tư hay quan tâm gì từ phía Nhà nước.

“Nhiều nhà cổ xuống cấp, dột nát và có nguy cơ sụp trước những trận lụt lớn, người dân xin phép sửa chữa nhà nhưng “cấn cái quyết định” nên xã không cấp phép. Họ tự ý tháo ra làm lại nhưng chúng tôi chẳng làm gì được vì chẳng có gì để hỗ trợ, mà nếu làm căng quá nhà sập, nguy hiểm đến tính mạng họ thì sao!”, ông Bổn nói.

Tương tự, ở khu vực phố cổ Gia Hội, theo điều tra của chúng tôi, trong khoảng 150 nhà mặt tiền đường Chi Lăng (đoạn Bạch Ðằng - Nguyễn Du), chỉ còn 23 nhà theo kiểu truyền thống mái ngói liệt, 32 nhà cổ kiểu Pháp. Số còn lại là nhà kiến trúc mới đủ kiểu, 2-3 tầng... Ông Phạm Quốc cho biết kể từ sau quyết định ban hành, không nghe cấp trên đặt vấn đề gì ngoài việc chỉ đầu tư sửa cái cổng và đường vào chùa Diệu Ðế.

Trong khi đó phần lớn người dân không muốn làm dân phố cổ vì quá bất tiện, lại chẳng được gì, do đó họ tìm cách sửa sang xây mới. Và tỉnh cũng như thành phố vẫn cấp phép xây dựng nhà cửa một cách ồ ạt, kể cả đối với những ngôi nhà mang dáng dấp cổ trong khu vực phố cổ. Ðặc biệt trong đó là việc cấp phép xây dựng Trường Chi Lăng với hai khối nhà cao năm tầng đồ sộ, phá vỡ hẳn không gian phố cổ vốn chủ yếu là nhà thấp tầng.

Ngôi nhà cổ “Đông Mậu từ” số 158 Bạch Đằng, Huế - một kiến trúc độc đáo thuộc phố cổ Gia Hội - đang xuống cấp nghiêm trọng - Ảnh: THÁI LỘC

Có nên tiếp tục gìn giữ?

Trước hai quyết định bị... treo, có nên tiếp tục gìn giữ hai khu phố cổ Bao Vinh và Gia Hội? Câu hỏi đó của chúng tôi đã nhận được cách trả lời khác nhau từ nhiều phía.

Ông Nguyễn Việt Tiến (nguyên giám đốc Sở Xây dựng, nguyên chủ tịch UBND TP Huế, hiện là chủ tịch Hội Quy hoạch Thừa Thiên - Huế) cho rằng: “Kiến trúc là sự phản ánh của lịch sử, cho nên không thể không gìn giữ những khu phố cổ như Gia Hội và Bao Vinh. Vấn đề là cần phải có chính sách giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và quyền lợi của người dân sao cho hài hòa; Nhà nước và người dân phải cùng bàn bạc tìm giải pháp để gìn giữ nó. Chúng ta đã ngâm quá lâu! Bây giờ nhất thiết phải làm sớm, nếu không thì cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng, công trình ngày càng xuống cấp trong khi Nhà nước lại chẳng khai thác được gì từ những giá trị này”.

Trong khi đó ông Nguyễn Văn Bổn cho rằng: “Không nên giữ nữa vì hiện có quá nhiều bất cập, ảnh hưởng quá lớn đến đời sống người dân và kinh tế của địa phương. Cử tri năm nào cũng kêu, xã từng nhiều lần kiến nghị cấp trên hủy quyết định bảo tồn khu phố cổ, nhưng đến nay vẫn không có sự thay đổi nào”.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Hoa, nguyên giám đốc Sở Văn hóa - thông tin Thừa Thiên - Huế, người trực tiếp tham gia xây dựng đề án quy hoạch bảo tồn khu phố cổ của Huế: “Những chủ trương lớn như thế này, theo tôi nên có tổ công tác điều tra, khảo sát lại để đề xuất cấp quản lý nên thực hiện như thế nào. Theo tôi, ở Bao Vinh hoàn toàn không có khả năng tổ chức khắc phục phố cổ. Tất nhiên nói như vậy không phải là xóa sạch tất cả, mà chỉ nên lựa chọn bảo tồn những đơn nguyên thật sự có giá trị.

Tương tự ở Gia Hội - Chợ Dinh, theo tôi không nên đặt vấn đề bảo tồn quá rộng như hiện nay mà chỉ nên tập trung một vài tuyến đường, đặc biệt là vòng cung Bạch Ðằng, đoạn đầu đường Chi Lăng... Khu vực này hội tụ rất nhiều yếu tố quý giá và đặc thù của đô thị cổ, như: quốc tự Diệu Ðế, đền thờ Ấn Ðộ giáo, nhà của người Nhật có công đưa môn võ karate đến VN, hệ thống hội quán Hoa kiều, hệ thống nhà kiểu Pháp đầu thế kỷ 20, những phủ đệ của các ông hoàng bà chúa và những ngôi nhà phố truyền thống... Một khu đô thị sát kinh thành mà hội đủ như thế thì quả là quá thú vị đáng để gìn giữ”!

THÁI LỘC

nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/419072/Pho-co-bi-treo.html

110106- “Không làm được các tuyến phố đẹp là lỗi của Hà Nội”

Diện mạo các tuyến phố mới mở của Hà Nội rất “phản cảm” được lý giải là do các quy định pháp luật chưa đủ để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, nhiều quan điểm lại thẳng thắn cho rằng, quản lý yếu kém là nguyên nhân của tình trạng trên.

Trong khi nhiều quy chế, chính sách đặc thù cho Hà Nội của dự thảo luật Thủ đô tiếp tục tạo ra những tranh luận “nóng bỏng”, đề xuất về việc bắt buộc phải quy hoạch các tuyến phố sau mở đường cũng nhận được nhiều ý kiến khác nhau tại phiên họp của UBTV Quốc Hội.  

Đi mà không cúi là… ngã

Theo ông Nguyễn Văn Thuận, Chủ nhiệm UB Pháp luật (cơ quan thẩm tra dự thảo luật), thực tế cho thấy tình trạng xây dựng lộn xộn do không có quy hoạch tổng thể hợp lý làm cho diện mạo các đường phố Thủ đô, nhất là các đường phố lớn mới mở rất phản cảm, với kiến trúc, màu sắc rất khác nhau v.v…

Một trong những giải pháp xử lý vấn đề này là khi xây dựng đường phố mới cần có quy hoạch giải phóng mặt bằng cả hai bên đường để xây dựng các công trình, nhà ở theo quy hoạch thống nhất. Biện pháp này tuy đã được pháp luật hiện hành cho phép thực hiện, nhưng do không quy định bắt buộc; đồng thời vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do về tài chính, khả năng bảo đảm tái định cư, cũng như do nhiều vấn đề phức tạp khác mà Hà Nội không thực hiện được.

Do vậy, theo ông Thuận có thể nghiên cứu để quy định theo hướng bắt buộc phải thực hiện đối với các đường phố, tuyến phố quan trọng của Thủ đô.
 
Sau mở đường, "nhà xấu" lại mọc lên (Ảnh: Thanh Niên)

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Cao Lại Quang cũng cho rằng, mặc dù Luật Quy hoạch mới quy định thu hồi đất theo quy hoạch đã được duyệt, nhưng theo luật Đất đai, thu hồi phải có dự án được duyệt. Đây là vướng mắc để quy hoạch các tuyến phố sau mở đường nên luật Thủ đô cần xử lý vấn đề này.

Tuy nhiên, ông Hà Văn Hiền, Chủ nhiệm UB Kinh tế (cơ quan thẩm tra dự thảo luật Quy hoạch trước đây) lại nhìn nhận, việc các tuyến phố mới sau mở đường xấu là… do quản lý yếu kém. Theo ông, khi mở đường phải mở thêm quỹ đất để thêm tiền làm đường cho đẹp đẽ, chúng ta đã có quy định cho phép thực hiện, không cần quy định cứng trong luật.

Từ thực tế các chuyến đi Phnôm pênh, Xiêm Riệp (Campuchia), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho biết, những nơi này quản lý bộ mặt kiến trúc rất tốt, “vỉa hè ra vỉa hè, phố ra phố, không thò ra thụt vào, tầng 1 các toà nhà bằng nhau”.

Trong khi đó, đi trên vỉa hè của ta mà không cúi xuống là… ngã. Nhà thò ra thụt vào, nhà cao, nhà thấp. “Đường Điện Biên Phủ trước đây như một cô gái mười tám, giờ một số nhà nhô ra, mà xây dựng như thế đâu phải một ngày xong. Đó là do mình quản lý chưa chặt, nói nhiều làm ít,”, ông Kiên nhấn mạnh.

Sẽ có “hàng rào” về nhập cư!

Trở lại với các vấn đề tranh luận từ nhiều phiên thảo luận trước, Bộ trưởng Tư pháp, Trưởng ban soạn thảo Hà Hùng Cường cho rằng, với Luật Cư trú không thể quản lý được thường trú ở nội thành Thủ đô, không giải quyết được các áp lực về hạ tầng kinh tế, kỹ thuật. Cụ thể, quy định chung về quản lý thường trú khá dễ dãi, có thể vận dụng với Đà Nẵng, Cần Thơ, nhưng vận dụng cho nội đô Hà Nội là… “hơi khó”.

Theo ông Cường, nếu Quốc hội thấy phải quản lý chặt chẽ, đảm bảo văn minh ở nội thành thì cần có quy định khác. “Không thể cho nhập vào nội thành những người ở thuê trên diện tích 5m2 hoặc trả tiền để được chứng nhận ở nhờ… Họ phải có công việc ổn định, có nhà”, ông Cường nói.
 
Hạ tầng kỹ thuật của Hà Nội đã quá tải từ rất lâu (Ảnh: Tiến Nguyên)

Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội, Vũ Hồng Khanh lại đưa ra các con số: năm 2009 lượng người nhập cư vào Hà Nội năm 2009 là 1,4 vạn, 2010 trên 10 vạn. Theo ông Khanh, nếu chấp nhận cả những người không có việc làm ổn định, những người đi ở nhờ thì tốc độ mở đường của Hà Nội không bằng tốc độ tăng dân cư.

“Muốn có thủ đô khoẻ mạnh, sạch sẽ, an toàn nên hạn chế đông người, hạn chế một số người sinh sống không chính tắc ở trung tâm thủ đô”, Phó Chủ tịch Quốc hội, Nguyễn Đức Kiên chia sẻ sau đó. Theo ông Kiên, nên có quy định một số vấn đề cư trú, hạn chế tối đa tăng dân số vùng lõi, vùng trung tâm.

Tuy nhiên, Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng lại có cái nhìn khác. Theo ông Vượng, nếu đưa ra điều kiện khắt khe để được cấp giấy chứng nhận cư trú, đó chỉ là vấn đề… giấy. “Vấn đề là nhiều người đến Hà Nội làm thuê, ngày kiếm 20 ngàn, tối thuê chỗ ngủ 2 ngàn, sáng mua cái bánh mỳ 2 ngàn. Việc người ta đến đây làm ăn là việc bình thường, nhất là khi đất đai ngoại thành bị thu hồi hết.”, ông Vượng nói.

Theo ông Vượng, chúng ta đã có thời kỳ loanh quanh “có nhà mới được nhập khẩu, có hộ khẩu mới mua nhà”, nhưng đến nay ai cũng được mua, cũng được cấp. Vừa qua có nhiều người từ các tỉnh mua nhà trong các khu đô thị, nếu lại quy định hạn chế nhập cư, sẽ có vấn đề được đặt ra, cho mua nhà lại không cho nhập khẩu, lại loanh quanh như trước. Chưa kể việc người nước ngoài mua nhà.  

Ông Vượng đặt vấn đề, khi làm luật này đã tính đến các luật khác chưa và có sửa các luật đó.

Có ý kiến đề nghị chưa thông qua luật Thủ đô tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII vào tháng 3 tới đây do còn nhiều vấn đề tranh luận. Với quan điểm ra luật phải có hiệu quả và tạo ra những cơ chế đặc thù thực sự, Chủ nhiệm UB Pháp luật, Nguyễn Văn Thuận cũng lo ngại về quỹ thời gian còn lại. Tuy nhiên, lãnh đạo Quốc hội đã quán triệt tinh thần nỗ lực để có thể kịp trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 3 tới đây.

Cấn Cường

nguồn: http://dantri.com.vn/c20/s20-449229/khong-lam-duoc-cac-tuyen-pho-dep-la-loi-cua-ha-noi.htm

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

110106- Sắc màu bạn ghét và định hướng công việc

Bạn có biết màu sắc bạn thích hoặc không thích có thể định hướng cho công việc của bạn? Hãy chiêm nghiệm với những kết luận sau của chuyên gia:

Bạn ghét màu vàng

Ý nghĩa: Bạn đặt ra một mục tiêu rất rõ ràng trong công việc, nắm rõ mục tiêu trong tầm tay với sự quyết tâm và tập trung cao.

Mẹo nhỏ để thành công: Vội vã bắt tay ngay vào kế hoạch với phương châm: “Bây giờ hoặc không bao giờ” thường không đem lại kết quả gì và dẫn bạn tới khủng hoảng. Suy nghĩ và hành động thận trọng sẽ mang lại kết quả tốt hơn.


Trong phỏng vấn:
Đừng nói luyến thoắng, hãy tìm hiểu kỹ càng trước khi bước vào cuộc phỏng vấn.


Để tránh những xung đột trong công việc:
Luôn bắt đầu cuộc đối thoại bằng quan điểm của họ, chứ không phải của mình.


Công việc tốt nhất cho bạn:
Bất cứ công việc nào mà deadline được cho là tối cần thiết như bác sĩ y khoa hoặc điều hành….


Bạn ghét màu xanh


Ý nghĩa
: Bạn quan tâm không ngừng tới việc điều chỉnh những tiêu chuẩn tới một chất lượng cao hơn. Các mục tiêu vì thế mà trở thành một “nhân tố động”.


Mẹo nhỏ để thành công:
Thuyết phục người khác cùng thảo luận đi đến có cùng quan điểm. Nếu không bạn sẽ không được chấp nhận hoặc được coi là không cùng đội chơi.


Trong phỏng vấn:
Chuẩn bị kế hoạch sẵn sàng. Luôn ghi nhớ cụm từ: “Tại sao họ lại cần mình” khi bước vào phỏng vấn.


Để tránh những xung đột trong công việc:
Nhớ rằng đồng nghiệp của bạn mong muốn được ghi nhận chứ không phải là những lời phê phán chân thành.


Công việc tốt nhất cho bạn:
Những công việc cần sự khách quan, không thành kiến cá nhân như biên tập, tổ chức sự kiện hoặc kiểm soát chất lượng.


Bạn ghét màu đỏ

Ý nghĩa: Bạn ham tìm tòi hiểu biết. Tuy nhiên nó lại bộc lộ một sự thật: đôi khi những thông tin bạn đưa ra thường không mấy giá trị với người nghe hoặc không trọn vẹn. Hãy dành nhiều thời gian suy ngẫm hơn trước khi phát ngôn bằng cách không đưa ra những câu trả lời ngay lập tức cho một vấn đề nào đó.


Mẹo nhỏ để thành công:
Hãy nói với người khác rằng bạn cần thời gian để suy nghĩ thêm cho một vấn đề và bạn sẽ phản hồi lại anh ta bằng những thông tin và kế hoạch hành động cụ thể.

Khi phỏng vấn: : Hãy nói một cách rõ ràng, quả quyết về những gì mình làm tốt nhưng không tỏ ra tự phụ, tự đề cao mình.


Để tránh những mâu thuẫn với đồng nghiệp:
Khi bực tức, đừng la lối, hãy viết nó ra.

Công việc tốt nhất cho bạn:
Bất cứ công việc gì mà sự cẩn trọng trong thông tin là tối cần thiết như nghiên cứu viên, kỹ thuật viên máy tính.


Bạn ghét màu xanh lá cây


Ý nghĩa
: Bạn độc lập và có trách nhiệm cao trong công việc. Điều đó cho phép bạn có thể làm việc trong một thời gian dài mà không cần bất cứ một sự hỗ trợ nào. Bạn biết làm thế nào để xây dựng một nhóm làm việc hiệu quả, bạn xây dựng được một mối quan hệ với đồng nghiệp như thế họ là những người trong gia đình bạn.


Mẹo nhỏ để thành công:
Hãy chú ý đến những tình huống khó xử của người khác, đặc biệt khi họ không thể lường trước được. Rất có thể họ không muốn làm điều đó.


Trong phỏng vấn:
Lắng nghe, xem điều gì là quan trọng với họ. Thảo luận xem họ muốn nghe cái gì.


Để tránh mâu thuẫn với đồng nghiệp:
Yêu cầu được hỗ trợ nhưng không quá mong chờ nó. Nếu không bạn sẽ rơi vào trạng thái thất vọng đối với đồng nghiệp.


Công việc tốt nhất cho bạn:
Bất cứ công việc gì mà sự theo dõi (follow-up) là tối cần thiết như kinh doanh, bán hàng…


Bạn ghét màu tím

Bạn có phương pháp tiếp cận nhanh chóng mà không có bất kỳ sự can thiệp của cảm xúc nào. Với bạn không có chỗ cho sự phóng đại hoặc những giả định. Bất kỳ những thông tin nào hợp lệ, bạn đều biết cách biết chúng thành những kết cục thành công.


Mẹo nhỏ để thành công:
Hãy suy nghĩ về tiềm năng nghề nghiệp thực sự của bạn. Công việc này không hề lãng phí thời gian và tiền bạc, vì nó sẽ khiến bạn gặt hái được nhiều hơn thế.


Trong phỏng vấn:
Thẳng thắn đề cập đến khả năng đạt được trong công việc, cho dù điều đó làm có thể làm bạn cảm thấy không thoải mái.


Để tránh mâu thuẫn với đồng nghiệp:
Không bác bỏ những ý tưởng mới cho đến khi bạn tính toán được hết những rủi ro và những lợi tức trong dài hạn.


Công việc tốt nhất cho bạn:
Những công việc cần sự cẩn thận và logic như kế toán hoặc tài chính.


Bạn ghét màu cam

Sự quan tâm và chu đáo trong tính cách của bạn khiến người khác luôn hài lòng về bạn. Khi công việc trở nên khó khăn, giải pháp của bạn là làm việc chăm chỉ hơn.


Mẹo nhỏ để thành công:
Trước khi cam kết hoàn thành một việc gì đó, hãy xem xét lại những kế hoạch khác bạn đang triển khai với những deadlines đã xác định trước.


Trong phỏng vấn:
Không nói dối, không lừa gạt. Tập trung vào công việc hiện tại là chìa khóa cho thành công của bạn.


Để tránh mâu thuẫn với đồng nghiệp:
Người khác chỉ làm tốt những gì họ thích, vì thế đừng kỳ vọng quá vào điều gì khác.


Công việc tốt nhất cho bạn:
Bạn thích hợp với những công việc như dịch vụ khác hàng, PR.

                                                                                        Lan Tường-Theo Careerbuilder

nguồn: http://dantri.com.vn/c133/s133-449071/sac-mau-ban-ghet-va-dinh-huong-cong-viec.htm

Phối cảnh




Nhà chống nóng

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

110105- Người Việt Ăn Uống thế nào?

Từ xưa đến nay đã có rất nhiều bài viết về ẩm thực người Việt. Mỗi bài nói về một khía cạnh khác nhau như cách chế biến, mùi vị, cách dùng,..Nhưng chưa có một bài viết nào đưa ra được một sự đúc kết gần như hoàn hảo về ẩm thực Việt Nam qua bài viết của Giáo sư Trần Văn Khê dưới đây.

Phần 1:

Người Việt Ăn Uống Thế Nào và Cách Nấu Nướng Khác Với Người Trung Hoa Ra Sao?

Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi:

Người Việt Nam ăn uống thế nào ? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng? Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. Trong câu chuyện, một vài bạn trong báo Tuổi Trẻ thấy nhận sét sơ bộ của tôi có phần nào lý thú, nghe vui tai nên nhờ tôi ghi ra thành văn bản. Nể lời các bạn, tôi xin gởi đến các bạn đọc vài mẩu chuyện có thật về cách ăn và nấu ăn của người Việt chúng ta, và xin các tay nghề nấu ăn trong nước đừng cười tôi dốt hay nói chữ, dám múa búa trước cửa Lỗ Bang, đánh trống trước cửa nhà Sấm.

Trong một buổi tiệc, một anh bạn Pháp hỏi tôi:

- Chẳng biết người Pháp và người Việt Nam ăn uống khác nhau như thế nàỏ 

- Tôi rất ngại so sánh...tôi trả lời...vì so sánh là biết rõ rành mạch cả hai yếu tố để so sánh.

Thỉnh thoảng tôi có ăn uống theo người Pháp nhưng làm sao biết cách ăn của người Pháp bằng người Pháp chính cống như anh. Tôi thì có thể nói qua cách ăn uống của người Việt chúng tôị Để cho anh dễ nhớ, tôi chỉ đưa ra ba cách nấu ăn của người Việt, rồi anh xem người Pháp có ăn như vậy chăng?

Người chúng tôi ăn toàn diện, ăn khoa học, ăn dân chủ. 

1. Ăn toàn diện: Chúng tôi không chỉ ăn bằng miệng, nếm bằng lưỡi, mà bằng ngũ quan. Trước hết ăn bằng con mắt, và do đó có nhiều món đem dọn lên, nhiều màu sắc chen nhau như món gỏi sứa chúng tôi chẳng hạn: có giá màu trắng, các loại rau thơm màu xanh, ớt màu đỏ, tép màu hồng, thịt luộc và sứa màu sữa đục, đậu phộng rang màu vàng nâu v. v. . . Có khi lại tạo ra hình con rồng, con phụng, trong những món ăn nấu đãi đám hỏi, đám cướị Sau khi nhìn cái đẹp của món ăn, chúng tôi thưởng thức bằng mũi, mùi thơm của các loại rau thơm như húng quế, ngò, hoặc các mùi đặc biệt của nước mắm, của cà cuống. Răng và nướu đụng chạm với cái mềm của bún, cái dai của thịt luộc và sứa, cái giòn của đậu phộng rang để cho xúc cảm tham gia vào việc thưởng thức món ăn sau thị giác và khứu giác. Rồi lỗ tai nghe tiếng lốc cốc của đậu phộng rang, hay tiếng rào rào của bánh phồng tôm, hay tiếng bánh tráng nướng nghe rôm rốp. Sau cùng lưỡi mới nếm những vị khác nhau, hòa hợp trong món ăn: lạt, chua, mặn, ngọt, chát, the, cay v. v. Chúng tôi ăn uống bằng năm giác quan, về cái ăn như thế gọi là ăn toàn diện. 

2. Ăn khoa học: Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở Nhật Bổn thường hay sắp các thức ăn theo " âm" và " dương" .

Nói một cách tổng quát thì những món nào mặn thuộc về dương, còn chua và ngọt thuộc về âm. Người Việt thường trộn mặn với ngọt làm nước mắm, kho thịt, kho cá, rang tép, ướp thịt nướng, luôn luôn có pha một chút đường; mà ăn ngọt quá như chè, ăn dưa hấu hay uống nước dừa xiêm thì cho một chút muối cho âm dương tương xứng. Người Tây khi ăn bưởi thật chua lại cho thêm đường, đã âm lại thêm âm thì âm thịnh dương suy, không đúng theo khoa học ăn uống. Người Việt phần đông không nghiên cứu về thức ăn, nhưng theo truyền thống của cha ông để lại thành ra ăn uống rất khoa học. Người Việt chẳng những để ý đến quân bình âm dương giữa các thức ăn mà còn để ý đến quân bình âm dương giữa người ăn và thức ăn. Khi có người bị cảm, người nấu cháo hỏi: cảm lạnh ( bị mắc mưa, đêm ra ngoài bị cảm sương) thì nấu cháo gừng vì cảm lạnh ( âm) vào người phải đem gừng ( dương) vào chế ngự. Nếu cảm nắng ( bị mặt trời làm cho sốt) thì dương đã vào người phải nấu cháo hành ( âm) . Lại nghĩ đến âm dương giữa người ăn và môi trường; mùa hè thời tiết có dương nhiều nên khi ăn có canh chua ( âm) hoặc hải sâm ( âm) ; mùa đông thời tiết có âm nhiều nên ăn thịt nướng. Ta có câu:

Mùa hè ăn cá sông, mùa đông ăn cá biển

Quân bình trong âm dương còn thể hiện qua điếu thuốc làọ Thuốc lá phơi và đóm lửa (dương) hít một hơi cho khói qua nước lã trong bình (âm) để hơi khói thuốc vào cơ thể, nguồn hút có cả dương và âm, không kể nước đã lọc bớt chất nicotine có hại cho buồng phổị Chẳng những cân đối về âm dương mà còn hàn nhiệt nữa: thịt vịt hay thịt cá trê - hàn - thì chấm với nước mắm gừng - nhiệt -. Cách ăn của người Việt Nam khoa học vì phù hợp với nguyên tắc âm dương tương xứng hành nhiệt điều hòạ Ngoài ra trong một món ăn thường đã có chất bột, chất thịt, chất rau làm cho sự tiêu hóa được dễ dàng.

 

3. Ăn dân chủ: Trên bàn dọn bao nhiêu thức ăn, nhưng chúng tôi có thể những món chúng tôi thích, hoặc phù hợp với vấn đề bảo vệ sức khỏe của chúng tôi. Ăn ít hay ăn nhiều thì tùy theo sức chứa bao tử của chúng tôi, chớ không phải ăn những món không ăn được, hay là ăn không nổị Như vậy cách của người Việt Nam rất dân chủ.

Anh bạn người Pháp thích chí cười to: ăn toàn diện, chúng tôi chưa nghĩ đến là về thính giác, ăn mà nghe tiếng động là vô phép nên ăn bớt ngon. Ăn khoa học, thì chúng tôi chỉ nghĩ đến calory mà không biết âm dương và hàn nhiệt. Còn ăn dân chủ, thì hoàn toàn thiếu sót vì đến nhà chúng tôi có một thực đơn mà mỗi người một đĩa, ăn không hết sợ vô phép nên nhiều khi không ngon lắm hoặc quá no cũng phải cố gắng ăn cho hết. Tôi xin hoàn toàn hoan nghinh cách ăn của người Việt Nam.

Phần 2

Về cách ăn uống Việt Nam lại có thêm:

4. Ăn cộng đồng: Thức ăn đầy bàn mà có một nồi cơm, một tô nước mắm để mọi người cùng xới cơm và chan nước mắm ở một nơị

5. Ăn lễ phép: Con lớn lên đã theo học ăn, học nói, học gói, học mở. Học ăn là trước nhứt, khi ăn phải coi nồi, ngồi coi hướng.

6. Ăn tế nhị: Ăn ớt cử cách cắn trái ớt, có khi phải ăn ớt xắt từng khoanh, ớt bằm, ớt làm tương. Nước chấm nhứt là ở miền Trung rất tinh tế ăn món chi phải có nước chấm đặc biệt: bánh bèo, bánh lá, bánh khoái đều có nước chấm khác.

 

7. Ăn đa vị: Một miếng nem nướng đã có vị thịt, riềng, muối, tỏi, hành cuốn vào bánh tráng lạt lạt, có chút bún, rau thơm, ớt (cay) , chuối sống (chát) , khế (chua) , tương ( ngọt, mặn cay) có pha hột điều hay đậu phộng xay ( béo) . Ăn có năm vị chánh: ngọt, mặn, chua, cay, béo, có cả ngũ sắc đen (tương) , đỏ (ớt) , xanh (rau) , vàng (khế chín) , trắng (bánh tráng, bún) . Ăn một miếng mà thấy 5 màu, lưỡi nếm 5 vị và có khi hơn thế nữạ

Một lần khác, một anh bạn của tôi khai trương một tiệm ăn lớn tại Paris. Anh có mời đài phát thanh và báo chí đến để cho biết rằng tiệm của anh có cả thức ăn Trung Quốc và Việt Nam. Các phóng viên muốn biết Việt Nam và Trung Quốc nấu ăn có khác nhau như thế nàỏ Hai đầu bếp Việt Nam và Trung Quốc được mời ra để báo chí hỏi thì hai người đều khẳng định là cách nấu ăn rất khác, nhưng phải xuống bếp coi mới thấỵ

Nhà bếp nhỏ không chứa được mấy chục phóng viên, và ai cũng ngại hôi dầu hôi mỡ nên ông chủ tiệm nhờ tôi tìm câu trả lời cho các nhà báọ Tuy không phải là một chuyên gia về nghệ thuật nấu bếp, nhưng tôi cũng phải tìm câu trả lời thế nào để cho các nhà báo bằng lòng. Tôi mới nói rằng, tôi không đi vào chi tiết nhưng chỉ đưa ra ba điểm khác nhau trong cơ bản.

1. Cách dùng bột: Người Việt Nam thường dùng bột gạo trong khi người Trung Quốc thích dùng bột mì, cho nên Việt Nam có phở, hủ tiếu, bún thang, bún bò, bún riêu; mà người Trung Quốc thì chuyên về mì nước, mì khô, mì sợi nhỏ, mì sợi lớn, mì vịt tiềm. Người Việt làm bánh đùm, bánh xếp, bánh cuốn, bánh hỏi; người Trung Quốc thì bánh baọ Chả giò người Việt Nam cuốn bằng bánh tráng bột gạo; còn người Trung Quốc thì cuốn tép trong bánh bằng bột mì.

2. Nước chấm cơ bản của người Việt nam là nước mắm là bằng cá; còn nước chấm của người Trung Quốc là xì dầu làm bằng đậu nành.

3. Người Việt thì thường pha mặn ngọt; người Trung Quốc thích chua ngọt.

Chỉ nói đại khái như vậy mà các phóng viên đã hài lòng; về viết bài tường thuật nêu lên những điểm khác nhau ấỵ Ông giám đốc tạp chí Đông Nam Á, sau lời nhận xét đó, cho phóng viên đến phỏng vấn tôi thêm và hỏi tôi có biết yếu tố nào khác đáng kể khi nói về cách nấu ăn của người Việt khác người Trung Quốc ở chỗ nàỏ Tôi trả lời cho phóng viên trong 40 phút. Hôm nay tôi chỉ tóm tắt cho các bạn những điểm chính sau đâỵ 

a. Về rau: người Việt tuy có ăn rau luộc, hay xào; nhưng thích ăn rau sống, rau thơm, mà người Trung Quốc không ưa ăn rau sống, cải sống, giá sống.

b. Về cá: Người Trung Quốc biết kho, chưng, chiên như người Việt Nam. Nhưng người Trung Quốc có cá mặn không làm mắm như người Việt. Có rất nhiều cách làm mắm và ăn mắm: mắm thái, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm v. v. . . Các nước Đông Nam Á cũng có làm mắm nhưng không có nước nào biết làm nhiều loại mắm như người Việt.

c. Về thịt: Người Trung Quốc biết quay, kho, luộc xào, hầm như người Việt, mà không biết làm nem, bì và các loại chả như chả lụa, chả quế v. v. . .

d. Người Trung Quốc ít có phối hợp nhiều vị trong một món ăn như người Việt. Khi chúng ta ăn một món ăn như nem nướng thì có biết bao nhiêu vị: lạt lạt của bánh tráng, bún, hơi mát mát ngọt ngọt như dưa leo, và đặc biệt của giá sống trộn với khế chua, chuối chát, ớt cay, đậu phộng cà bùi bùi, và có tương mặn và ngọt. Người Việt trong nghệ thuật nấu ăn rất thích lối đa vị và tất cả các vị ấy bổ sung cho nhau, tạo ra một vị tổng hợp rất phong phú .

Cái ăn chiếm phần khá quan trọng trong đời sống của chúng tạ Khi dậy dỗ một trẻ em thì phải cho nó học ăn, học nói, học gói, học mở để biết ăn, nói với người tạ Ra đường phải biết " ăn bận" hay " ăn mặc" cho phải cách phải thế. Đối với mọi người không nên " ăn thua" làm chi cho bận lòng. Làm việc gì phải cẩn thận " ăn cây nào, rào cây nấy" . Trong việc tiêu tiền phải biết " liệu cơm, gắp mắm" và dẫu cho nghèo đi nữa " khéo ăn thì no, khéo co thì ấm" . Không nên ham ăn quá độ vì " no mất ngon, giận mất khôn" . Ra làm ăn phải quyết tâm đừng " cà lơ xích xui" chạy theo " ăn có" người khác. Phải biết " ăn chịu" với người làm việc nghiêm túc thì công việc khỏi bị " ăn trớt" . Không nên " ăn gian, ăn lận" hay bỏ lỡ cơ hội thì " ăn năn" cũng muộn. Trong cuộc sống nên tìm việc làm hữu ích cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước đừng để mang tiếng "ăn hại" "ăn bám" người khác. Khi đàn chơi phải biết lên dây đàn cho " ăn" với giọng ca, hòa đàn cũng phải " ăn" với nhau, " ăn ý" , "ăn rơ" thì mới haỵ Các bạn thấy chăng? Cái "ăn" cũng khá quan trọng nên mới lọt vào một số từ ngữ của tiếng nói Việt Nam.

Tuy chúng ta không như người Trung Quốc "dĩ thực vi tiên" nhưng phải có ăn mới làm nên việc vì có "thực mới vực được đạo"

Trần Văn Khê

nguồn: http://www.muivi.com/muivi/index.php?option=com_content&task=view&id=9728&Itemid=431#jc_allComments