Hiển thị các bài đăng có nhãn bảnsắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bảnsắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011

110220- 10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Ăn uống có thể là phần hấp dẫn nhất của chuyến du lịch. Nhà xuất bản sách du lịch Lonely Planet đưa ra 10 gợi ý thú vị về món ăn cho bạn khi đi du lịch nước ngoài.

1. Tapas (món ăn mặn) ở Barcelona, Tây Ban Nha

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Patatas bravas (khoai tây dầm nước sốt cà chua cay), calamares fritos (mực rán), boquerones (cá cơm), croquetas de jamon (thịt viên giămbông), chorizo (xúc xích thịt lợn), pimientos asados (ớt xào), albondigas (viên thịt) và berenjenas gratinadas (cà tím nướng pho mát) chỉ là một số ví dụ thơm ngon về tapas - các món ăn nhẹ của Tây Ban Nha.

Thành phố sôi động Barcelona trội hơn hẳn các nơi khác ở Tây Ban Nha trong việc chế biến tapas. Đặc biệt là dọc con phố La Rambla ở trung tâm thành phố lúc tối muộn khi cư dân cũng như khách du lịch thong thả đi từ quảng trường Plaça de Cataluny về phía nam, bạn hãy đặt dao nĩa xuống bàn và gọi tapas với một cây tăm hoặc ăn bằng tay.

2. Pasta (mì ống) ở Naples, Ý

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Các nhà nghiên cứu về ẩm thực vẫn tranh cãi rằng Marco Polo đã đưa mì ống vào Ý bằng cách nhập từ Trung Quốc trong thế kỷ 13, hay người Ý cổ đã biết đến món này từ rất lâu trước đó. Nhưng nói chung mọi người đều nhất trí vào thế kỷ 18 thành phố Naples đã biến hỗn hợp bột - nước thành một kỹ nghệ hoàn hảo và nổi tiếng với tên gọi thủ đô mì ống của thế giới.

Một dịp nào đó khi bạn lang thang trên những con phố rêu phong ở trung tâm lịch sử Naples, hãy thẳng tiến đến trattoria (nhà hàng) gần nhất và thưởng thức một đĩa mì ống. Nếu chú ý bạn sẽ thấy người Naples thường xếp một quả chà là lẫn giữa mì và cà chua nghiền.

3. Doner kebab (thịt nướng xoay) ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Doner kebab truyền thống là một đĩa cơm phết bơ, ở trên là thịt cừu nướng và nhiều nhà hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn phục vụ theo kiểu này. Tuy nhiên, ngày nay nổi bật hơn nhiều là món thức ăn nhanh họ hàng của nó như bánh mì sandwich kẹp thịt ướp được cắt lát từ một xiên thịt nướng xoay đi kèm salad và nước xốt sữa chua.

Một việc phải làm khi bạn ở Istanbul là chén no nê một doner chắc nịch rồi sau đó lang thang quanh nhà thờ Hồi giáo Sultanahmet hoặc dọc cầu treo Bosphorus.

4. Bánh bao hấp ở Thượng Hải, Trung Quốc

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Bánh bao hấp Thượng Hải là món “phải nếm mới tin" và là một trong những món đắt hàng nhất các ngày lễ dim-sum. Những chiếc bánh ngon lành trông giống trái bóng bột bình thường cho đến khi bạn khám phá bên trong bánh với nước dùng nóng có hương vị thịt lợn, cua hoặc rau.

Bất ngờ nhỏ này được thực hiện bằng cách cho vào bánh một chút gelatin cứng, chất này sẽ chảy ra khi bánh được hấp. Để tránh bị bỏng nướu với món xúp nóng này, bạn đừng cắn chặt bánh bao giữa hai hàm răng mà hãy nhấm nháp từng chút một cho đến khi nước dùng chảy ra.

5. Feijoada ở Rio de Janeiro, Brazil

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Những người yêu thích ẩm thực đã tổ chức hẳn một lễ hội riêng để ca ngợi feijoada - bữa trưa truyền thống của Brazil. Đó là món hầm thẫm màu và cay được nấu từ đậu đen, thịt lợn. Feijoada được chế biến để đáp ứng nhu cầu lớn trong các nhà hàng ở Rio de Janeiro, thường chỉ thịt lợn được sử dụng, nhưng cũng có thể có những bộ phận khác như tai, lưỡi và đuôi.

Bạn cần lưu ý rằng bữa ăn thịnh soạn này là một thách thức về tiêu hóa cho bất kỳ cái dạ dày nào, vì thế hãy kiếm một chiếc ghế dài để nghỉ ngơi hơn là vùng vẫy ở biển Ipanema sau khi ăn.

6. Gumbo (xúp mướp tây) ở New Orleans, Mỹ

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Múc ra từng muỗng từ nồi xúp mướp tây đang bốc hơi, bạn sẽ có cảm giác mình đang chạm vào cuộc sống ở New Orleans như khi nghe nhạc jazz, zydeco, swamp blues hoặc nhai rào rạo những chiếc bánh ngọt beignet.

Món ăn được yêu thích của bang Louisiana thực chất là món canh hải sản hoặc thịt hun khói, với nhiều mướp tây hoặc hỗn hợp mỡ nước và bột mì, sau đó phủ lên trên một lớp gạo dày. Nhưng New Orleans còn phục vụ vô số biến thể từ công thức gumbo cơ bản, từ phong cách cổ điển Creole tới kiểu cay Cajun.

7. Couscous ở thành phố Casablanca, Maroc

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Ngay từ giây phút đầu tiên đặt chân đến Casablanca, bạn hãy thẳng tiến về phía đường Boulevard de la Corniche bên bờ sông, chọn một quán cà phê hoặc một nhà hàng hấp dẫn và gọi một tách trà bạc hà cùng một đĩa thức ăn truyền thống của Marôc: couscous.

Couscous được làm từ semolina, một loại lúa mì cứng và được hấp đi hấp lại nhiều lần trong chiếc nồi đặc biệt có tên couscoussier. Sau đó phủ bằng một món hầm cay bao gồm hoặc các loại rau gia hoặc hỗn hợp rau và thịt như gà, cừu và cá.

8. Nasi Goreng ở đảo Penang, Malaysia

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Khách du lịch đã đến Malaysia chắc chắn không ai không biết đến món ăn đơn giản nhưng hấp dẫn nasi goreng. Món ăn phổ biến trên khắp Indonesia và Singapore này theo nghĩa đen có nghĩa là cơm rang. Nasi Goreng được chế biến bằng cách rang cơm với thịt gà hoặc hải sản, rau, trứng và xì dầu hơi ngọt.

Gần như bất cứ nơi nào phục vụ đồ ăn ở Malaysia cũng có nasi goreng, nhưng ngon nhất là ở những trung tâm đông đúc người bán hàng rong trên đảo Penang. Phương pháp nấu ăn đa dạng kết hợp phong cách Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ đã tạo cho món ăn bình dân này một hương vị đặc biệt.

9. Cà ri ở Mumbai, Ấn Độ

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Cà ri là một hiện tượng trên toàn châu Á, có mặt gần như khắp nơi ở Punjab (bang tây bắc Ấn Độ) và Nhật Bản.

Nhưng Ấn Độ mới chính là quê hương món ăn này, và bạn chỉ thật sự thưởng thức cà ri khi đến thành phố Mumbai (bang Maharashtra) và thỏa mãn khẩu vị của mình với phương pháp chế biến theo kiểu địa phương.

Một món cà ri Mumbai đặc trưng thường có hải sản và dừa trộn với masala (hỗn hợp gia vị). Những gia vị tiêu chuẩn bao gồm nghệ, rau mùi, gừng và ớt đỏ.

10. Hot-dog ở New York, Mỹ

10 đặc sản của các thành phố du lịch nổi tiếng thế giới

Mọi người đều biết ăn uống ở New York có nghĩa là thẳng tiến đến một ngã ba, ngã tư đông đúc giữa các con phố, tìm một xe đẩy kim loại cũ kỹ, được che bằng một chiếc ô sặc sỡ, sau đó gọi một chiếc xúc xích với nước xốt cà chua, mù tạt, hành tây hoặc dưa cải bắp, gia vị hoặc tương ớt.

Nếu bạn muốn trải nghiệm cảm giác đặc biệt hơn, hãy đến bán đảo Coney Island ngày 4/7 và tham gia cuộc thi ăn hot-dog với chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh chuyên về hot-dog Nathan's Famous. Kỷ lục hiện nay là ăn 53,5 chiếc xúc xích trong vòng... 12 phút!

Theo aFamily

nguồn: http://www.zing.vn/news/an-ngon/10-dac-san-cua-cac-thanh-pho-du-lich-noi-tieng-the-gioi/a107256.html

110220- Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Trên thế giới có rất nhiều món ăn kỳ quặc được bày bán ngoài vỉa hè, nhiều món không chỉ lạ mà còn rất kinh dị.

Không chỉ tại Việt Nam mà có rất nhiều nước trên thế giới có những món ăn được bày bán ngoài vỉa hè, lề đường. Thực đơn cho những món ăn vỉa hè này là rất đa dạng và phong phú. Từ những món côn trùng như sâu bọ cho đến những con vật đáng sợ như nhện, bọ cạp, thậm chí là nội tạng động vật... cũng được chế biến và bày bán. Tất nhiên có nhiều món ăn không dành cho những người yếu bóng vía, có lẽ chỉ có những ai can đảm mới có thể ăn những món này. Không thể phủ nhân độ ngon của những món ăn vỉa hè này, nhưng chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thì... phải xem lại.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Những con chuột được chế biến sẵn

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Côn trùng xiên

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Chuối nướng.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Món nhện rang ở Campuchia.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Món kem độc đáo.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Đủ loại côn trùng xiên tại Trung Quốc.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Thằn lằn và cá ngựa.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới
Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Món mũi lợn.

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Đầu vịt

Những đồ ăn vỉa hè lạ lùng nhất thế giới

Chân gà

Theo VCTV

nguồn: http://www.zing.vn/news/chuyen-la/nhung-do-an-via-he-la-lung-nhat-the-gioi/a107244.html

Thứ Ba, 18 tháng 1, 2011

110119- Bản sắc kiến trúc Việt, không phải muốn là có

Không ít KTS Việt Nam đang cố gắng có vài "tín hiệu" trong các công trình của mình để nhận ra được kiến trúc VN hiện đại. Cái hiện đại chắc chắn không phải vài mái đình cong, hay mái ngói... mà phải là tín hiệu khác, tín hiệu đến từ sâu trong văn hóa Việt, không hề dễ dàng.

LTS: KTS Nguyễn Luận là chuyên gia về quy hoạch đô thị và lý luận phê bình kiến trúc. Ông cũng là người đầu tiên đề xuất mô hình nhà ở sinh thái hiện đại cho nông thôn Việt Nam. Đề tài "Nhà ở nông thôn, đơn vị cân bằng sinh thái" của ông đã được giải nhất cuộc thi Kiến trúc quốc tế do ACCT và UNESCO tổ chức tại Paris vào năm 1979. Tuần Việt Nam vừa có cuộc trò chuyện với ông về chủ đề bản sắc kiến trúc Việt

Đặt hy vọng vào thế hệ sau

- Anh nhận xét thế nào về bản sắc của kiến trúc Việt hiện đại? Trong các cuộc thi quốc tế, để chọn thiết kế cho các công trình lớn, luôn có yêu cầu "bản sắc", nhưng nhìn vào các công trình được chấm giải của các KTS nước ngoài lại chẳng thấy "chất" Việt Nam đâu cả?

- Trước hết phải khẳng định, bản sắc không phải cứ muốn đặt ra là có, không thể cứ đặt ra tiêu đề này, tiêu chí kia để yêu cầu các công trình thiết kế phải có nét này, điểm khác và khẳng định công trình có bản sắc. Cách lấy những chi tiết của kiến trúc truyền thống đưa vào công trình hiện đại hoàn toàn không tạo ra bản sắc, nếu có chăng là một sắc diện nào đó để "đánh lừa" công chúng thôi.

Kiến trúc là một ngành rất đặc thù, sự tiếp cận với các xu hướng quốc tế, hoặc phát triển được những vốn liếng truyền thống của mình để tạo nên tác phẩm kiến trúc có đường nét, màu sắc, có hồn Việt là giai đoạn rất dài.

Ngay cả với những quốc gia lớn mạnh của châu Á, cũng không dễ tìm kiếm ngôn ngữ kiến trúc riêng. Trong kiến trúc hiện đại của Nhật Bản, ai cũng công nhận có chất Nhật Bản. Nhưng kiến trúc hiện đại của Trung Quốc hay Hàn Quốc chỉ hoàn toàn là phương Tây, chứ không có chất Trung Quốc, Hàn Quốc.

Phải chăng bởi Nhật Bản rất chú tâm đầu tư cho văn hóa, với sự thúc ép của lòng tự hào dân tộc trong điều kiện kinh tế phát triển rất cao mới tạo ra được kiến trúc Nhật Bản đương đại. Nhiều KTS Nhật Bản nổi tiếng, được giải Pritzker danh tiếng nhất của kiến trúc thế giới, trong đó KTS Tadao Ando đã từng đến Việt Nam.

Chúng ta không so sánh với Nhật Bản để mong muốn sẽ như họ, cũng không so sánh với Trung Quốc, Hàn Quốc để nghĩ mình sẽ không "bị" như thế. Tin rằng với thời gian, khi tiềm lực kinh tế lớn hơn, cộng đồng KTS cùng trăn trở suy tư, thì sẽ đến một lúc ta tự hào có được bản sắc kiến trúc Việt đương đại, nhưng không thể sốt ruột đặt ra thời hạn là hôm nay hay ngày mai.

Resort Six Senses Ninh Vân bay

- Nhật Bản đạt đỉnh cao là nhờ chính các KTS Nhật Bản. Còn chúng ta lại đang mong đợi các KTS nước ngoài đưa bản sắc đến cho chúng ta chăng?

- Thực tế kiến trúc nước nào cũng trải một giai đoạn giao lưu để học quốc tế. Thế giới đã hình thành những tập đoàn tư vấn rất lớn, nếu so sánh về quy mô thì những đơn vị thiết kế lớn của chúng ta không thể địch lại. Nước nào ở giai đoạn thấp như chúng ta hiện tại cũng phải trải qua cả. Nước bạn Thái Lan là một điển hình, qua giai đoạn lâu năm như thế, Thái Lan đã có được một số KTS rất giỏi, làm những resort được đánh giá rất cao. Ngay chính Việt Nam chúng ta cũng đã thuê Thái Lan thiết kế nhiều công trình, điển hình như resort Six Senses Ninh Vân bay được thế giới biết đến.

Nếu chúng ta kéo được nhiều KTS hàng đầu thế giới đến làm cho chúng ta thì tốt chứ, vì chúng ta sẽ có thêm nhiều công trình đẹp. Học hỏi nhiều thì sẽ đến lúc mở ra thôi, hy vọng vào thế hệ sau có điều kiện thuận lợi phát triển hơn.

Vô bản sắc vì không áp chuẩn quốc tế

- Những KTS hàng đầu đương nhiên sẽ được chào đón. Nhưng nhìn những công trình "made in nước ngoài" đã được xây dựng từ kết quả những cuộc thi quốc tế thì hình như không phải thế?

- Vấn đề là các cuộc thi ở nước ta chưa có chuẩn quốc tế, bất chấp hội đồng chấm thi hay người dự thi. Có một lý do là nền kiến trúc của ta chỉ thật sự phát triển từ 1975 (miền Nam sớm hơn một chút), chứ trước đó là nền kiến trúc khác hoàn toàn, có thể gọi là nền kiến trúc vô danh, không biết tác giả thật là ai? Có lẽ chúng ta chưa đủ thời gian, thử thách cần thiết để định hình cá nhân, bản lĩnh KTS chăng?

Chưa có văn hóa kiến trúc đủ để tạo dựng nên chuẩn mực cho những cuộc thi, để kết quả cuộc thi được đánh giá chính xác, được phần lớn cộng đồng công nhận.

Chẳng hạn với công trình Trung tâm Hội nghị Quốc gia, khi hội đồng chấm giải hỏi tác giả thích đồ án nào trong 5 phương án ông đưa ra, thì bản thân ông thích phương án khác, nhưng rồi ông lại chọn đưa ra thiết kế đã được xây dựng với lý do... nhiều người thích cái đó.

Khi vào Việt Nam họ không còn là bản thân họ nữa, mà bị "Việt hóa" đi, làm sao để ra được công trình, nên mới có cái nhà "không phải đẹp lắm" trong mắt giới KTS. Không chỉ ở công trình lớn mà công trình nhỏ ở địa phương cũng bị như vậy, cơm áo gạo tiền đặt vấn đề lớn hơn. Chưa nói đến những chuyện khác, như chuyện lãnh đạo quyết định chẳng hạn.

Đã có thời kiến trúc Việt Nam định hình một số nét chung, nhìn công trình biết ngay. Đó là thời bao cấp, thời từ 1956 đến 1960, 1965 - 1966 các công trình rất giản dị, không thể biết được ai là tác giả, hầu như là vô danh.

Nhưng có thể gọi là hình thành được một xu hướng thiết kế, nhẹ nhàng, thanh mảnh, ít diêm dúa, có lai châu Âu nhưng sạch sẽ, giá trị khẳng định một thời kỳ. Đó là những công trình của lớp KTS tốt nghiệp Mỹ thuật Đông Dương, hoặc học kiến trúc ở Đông Âu về.

Những công trình may mắn còn lại như Học viện Chính trị Quốc gia, rồi tòa nhà đang thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư bây giờ, hay Trường ĐH Thủy Lợi...

- Nghĩa là, KTS nước ngoài hoàn toàn có thể tìm được bản sắc kiến trúc Việt Nam?

- KTS nước ngoài hoàn toàn có thể tham gia cuộc tìm kiếm bản sắc kiến trúc Việt Nam với chúng ta, vì khi đến một quốc gia khác, họ cũng sẽ học hỏi văn hóa của nơi đó, những biểu tượng văn hóa đặc trưng nhất là gì. Họ lại có cách nhìn vấn đề tinh tế, có thể nhìn ra những thứ mà chúng ta quá quen nên không phát hiện ra.

Chẳng hạn KTS người Thái Lan làm resort Six Senses Ninh Vân bay cũng quá giỏi, thành công trình đẳng cấp quốc tế luôn.

Gần đây có nhiều đồ án rất tốt, nhưng rất tiếc mới chỉ dừng ở mức độ thi. Ví dụ khi nhóm KTS Pháp làm đồ án được giải nhất nhưng lại không được chủ đầu tư chấm ở Gia Lâm. Họ giữ nguyên đồng ruộng, đan xen những khóm nhà ở, tự do, hồn nhiên, như một việc hiển nhiên phải thế chứ không sắp đặt. Rồi đồ án quy hoạch ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Hay cuộc thi thiết kế đường đi bộ - cầu đi bộ Thủ Thiêm mà tôi có dịp tham gia, phương án của nhóm KTS Pháp làm cũng rất hay.

Rất tiếc là mới chỉ dừng lại ở đó, còn từ kết quả cuộc thi đến công trình kiến trúc hiện hữu lại là một chuyện khác, vì ta chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện hết những đồ án đó.

Không có "mắt xanh" làm giám khảo

- Vậy vấn đề nằm ở phía chúng ta với tư cách người ra đề bài, người chấm giải và người muốn "biến đổi" phương án khi đưa vào thi công?

- Quan trọng nhất là con mắt xanh của BGK. Ví dụ nhà hát Opera Sydney sẽ không bao giờ hiện hữu, nếu không có KTS A. Saarinen người Mỹ sang làm giám khảo.

Nhưng sẽ không thể có con mắt xanh ấy, nếu văn hóa kiến trúc không đủ thâm sâu. Cái hồn của kiến trúc không dễ nhận ra, nếu cứ xuất hiện lè lè thì cần gì BGK chấm giải. Cái hồn của kiến trúc sẽ ẩn đâu đó nhưng với thời gian công chúng sẽ nhận ra được nó.

Có một công trình rất đẹp, rất đặc thù mà tôi hay lấy làm ví dụ, đó là Khuê Văn các. Có thể nói Khuê Văn các là công trình hiện đại nhất trong các kiến trúc cổ của VN, hiện đại hơn chùa Một Cột rất nhiều. Tất nhiên chùa Một Cột đẹp, nhưng hình ảnh hoa sen của chùa Một Cột cụ thể quá, còn hình ảnh của Khuê Văn các trừu tượng hơn nhiều, các đường nét thanh mảnh. Gác chuông vòng tròn thì ở đâu cũng có, nhưng có những tia thì chỉ có thể là gác Sao Khuê. Trừu tượng hơn, vì thế mà hiện đại hơn rất nhiều.

Quán cafe Gió và Nước

- Vậy theo anh, chúng ta có nên đòi hỏi mỗi cuộc thi nhất định phải chọn được thiết kế mang bản sắc Việt Nam?

- Đòi hỏi có một nền kiến trúc bản sắc là đòi hỏi chính đáng, Cuộc thi đặt vấn đề phải mang bản sắc Việt nam cũng là đúng, xem như một hướng suy nghĩ và hành động. Nhưng nếu dùng nó làm chuẩn mực, thước đo theo kiểu sẽ trừ điểm nếu công trình không "thuyết minh" được bản sắc Việt Nam thì lại sai. Nếu KTS không muốn nhắc lại truyền thống của Việt Nam, mà muốn đóng góp một cái hiện đại mới toanh, chưa từng có ở đâu, thì quá tốt chứ.

Nếu chúng ta cứ ép công trình nào cũng phải Việt Nam, thì sẽ ra những công trình không nhiều chất sáng tạo của cá nhân KTS. Những người tổ chức cuộc thi, người chấm giải phải rất tinh tế để nhận diện khi một phương án nào đó bộc lộ ra nét Việt Nam. Nhiều lần như thế thì sẽ hình thành được bản sắc.

Ở các cuộc thi kiến trúc của thế giới, rất nhiều trường hợp những người vô danh nhưng sáng tạo đột phá và vượt qua những tên tuổi lớn. Như Thư viện Quốc gia của Pháp chẳng hạn, ở thời điểm trúng giải, Dominique Perrault chỉ là một KTS trẻ vô danh. Hay thiết kế được chọn cho Bến tàu biển Quốc tê Yokohama ở Nhật Bản là của nhóm Foreign Office Architects lần đầu tiên xuất hiện. Vấn đề vẫn là con mắt xanh của BGK, như tôi đã nói.

Có dấu hiệu khát khao tìm kiếm kiến trúc Việt

- Vậy các KTS Việt Nam đang ở đâu trong hành trình đi tìm bản sắc kiến trúc Việt hiện đại? Anh có thể "điểm danh" một số KTS đang theo xu hướng đáng được khuyến khích?

- Có chứ, trong lĩnh vực kiến trúc du lịch, làm resort thì có một số, cũng do yêu cầu của loại hình này có phần đơn giản hơn, chỉ cần lấy những nét đặc thù, như kết cấu gỗ, kết cấu tre. Chẳng hạn Rock Garden resort thiết kế rất đơn giản, nhưng có "chất vùng" của chúng ta. Hay Palm garden resort của KTS Nguyễn Tự Nguyên, Lê Thanh Hải. Trước đó khá lâu là Sài Gòn - Mũi Né được giải thưởng quốc gia của KTS Nguyễn Văn Tất. Rồi KTS Dương Hồng Hiến...

Hay gần đây có KTS Võ Trọng Nghĩa lăn lộn với kiến trúc tre, làm ra những công trình rất tốt.

Rồi xu hướng của KTS Hoàng Thúc Hào đi vào trong bản chất, không phải ngói mái hay tường trình mà làm sao có một công trình giản dị, hiện đại, xây dựng được cho cộng đồng, với vốn ít hoặc sự kêu gọi tài trợ nhỏ. Với Việt Nam thì lần đầu tiên Hào theo hướng này, còn giải thưởng Agga Khan của các KTS Ả rập nói chung đã đặt vấn đề từ lâu, làm ra những công trình đơn giản cho cộng đồng và rất đẹp.

Anh em KTS ở các tỉnh thì hay bị theo việc cụ thể ở đó, nhưng ở An Giang - Long Xuyên thì có KTS Nguyễn Văn Siêu thiết kế được nhiều công trình, chưa quá đặc sắc nhưng đã cố gắng đưa chất Việt vào công trình công cộng.

Chưa nhiều, nhưng ta có thể kết luận, sự tìm kiếm hẹp đã bộc lộ khát khao của anh em kiến trúc sư VN mong muốn tìm ra những con đường dần đến với kiến trúc Việt hiện đại. Xin đừng nóng vội, phải vượt qua nhiều chông gai thì mới đến được.

Trong vườn của Resort Sài Gòn - Mũi Né

- Phải chăng cái khó của kiến trúc còn nằm ở việc không thể chỉ là nỗ lực của riêng KTS, mà rất cần sự đồng cảm của chủ đầu tư, hay cần công trình nằm trong một quy hoạch tốt?

- Đúng là hiện tại, đồ án kiến trúc ở VN chưa thể hiện đầy đủ những gì KTS sáng tạo nên, mà thường bị bóp bên này, bên kia vì lý do kiểm duyệt hay đầu tư, ít công trình nào của KTS làm ra mà được xây dựng một cách toàn vẹn như họ mong muốn. Riêng điều đó gây rất nhiều khó khăn cho sự sáng tạo.

Nhưng rõ ràng, không ít KTS Việt Nam đang cố gắng có vài "tín hiệu" trong các công trình của mình để nhận ra được kiến trúc VN hiện đại. Cái hiện đại chắc chắn không phải vài mái đình cong, hay mái ngói... mà phải là tín hiệu khác, tín hiệu đến từ sâu trong văn hóa Việt, không hề dễ dàng.

- Vậy đã có giai đoạn nào gần đây, kiến trúc Việt Nam thật sự có được nét riêng?

- Nét Việt Nam thì chưa, nhưng đã có thời kiến trúc Việt Nam định hình một số nét chung, nhìn công trình biết ngay. Đó là thời bao cấp, thời từ 1956 đến 1960, 1965 - 1966 các công trình rất giản dị, không thể biết được ai là tác giả, hầu như là vô danh.

Nhưng có thể gọi là hình thành được một xu hướng thiết kế, nhẹ nhàng, thanh mảnh, ít diêm dúa, có lai châu Âu nhưng sạch sẽ, giá trị khẳng định một thời kỳ. Đó là những công trình của lớp KTS tốt nghiệp Mỹ thuật Đông Dương, hoặc học kiến trúc ở Đông Âu về.

Những công trình may mắn còn lại như Học viện Chính trị Quốc gia, rồi tòa nhà đang thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư bây giờ, hay Trường ĐH Thủy Lợi...

Rất cần giữ lại những công trình là dấu ấn của một giai đoạn như thế.

Linh Lan

nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-01-18-ban-sac-kien-truc-viet-khong-phai-muon-la-co

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

110118- Đã thấy lấp ló bản sắc kiến trúc Việt?

Kiến trúc nông thôn mà ứng xử không thận trọng sẽ đơn điệu, phi nhân văn như những căn hộ, những lồng sắt tập thể không bản sắc. Hiện đã và đang diễn ra quá trình đóng khung đời sống tinh thần nông thôn trong những mẫu nhà hộp - hình ống đô thị.

LTS: Những ngày cuối năm 2010, công trình Nhà cộng đồng thôn Suối Rè (xã Cư Yên, huyện Lương Sơn) do KTS Hoàng Thúc Hào thiết kế, vừa là chủ đầu tư đã khánh thành. Đây là lần đầu tiên 1 KTS tự đầu tư cho 1 công trình kiến trúc hoàn toàn mang ý nghĩa xã hội, phi lợi nhuận, lại là kiến trúc dành cho nông thôn, nên đã gây chú ý trong cộng đồng giới KTS. Không chỉ là công trình cụ thể dành cho 1 địa bàn cụ thể, từ cách làm này, KTS Hoàng Thúc Hào mong muốn sẽ mở ra hướng đi mới, góp phần tạo nên bản sắc kiến trúc nông thôn Việt Nam hiện đại, trong đó người KTS có vai trò chủ động sáng tạo.

Tuần Việt Nam có cuộc trò chuyện  với KTS Hoàng Thúc Hào, hy vọng mở đầu cho loạt ý kiến của giới KTS tiếp tục chủ đề  "đi tìm bản sắc kiến trúc Việt Nam hiện đại".

Loay hoay với ngôn ngữ kiến trúc Việt

- Mấy năm vừa rồi gặp anh đều nghe chuyện công trình Nhà cộng đồng thôn Suối Rè do anh vừa thiết kế, vừa là chủ đầu tư, từ khi chỉ là ý tưởng đến suốt quá trình thực hiện. Ấp ủ công trình lâu như thế, đâu là khó khăn lớn nhất để công trình có thể hoàn thành?

- Khó khăn đầu tiên là việc lựa chọn cho đúng mình sẽ làm công trình gì ở nông thôn. Đến giờ tôi nghĩ lựa chọn của chúng tôi hoàn toàn xác đáng. Khi làm nhà cộng đồng, mọi người dân trong làng đương nhiên có quyền sử dụng nhưng họ không nhất thiết phải ở đó. Nếu mình làm nhà ở bằng đất, bằng tre thì khả năng thuyết phục khó khăn hơn, vì dân làng vẫn bị tâm lý thích nhà cao cửa rộng, muốn chắc chắn, bằng bê tông cốt thép hệt đô thị.

Quyết định dựng nhà cộng đồng rồi, trăn trở tiếp theo là tìm lời giải cho tính "đa năng" của nó - người dân có thể sử dụng vào nhiều mục đích. Như ở ngôi nhà này vừa là nhà trẻ - lớp mẫu giáo, vừa là chỗ đọc sách, không gian tụ họp, sinh hoạt văn hóa thể thao, cập nhật thông tin... kể cả tổ chức hội hè, cưới xin, ma chay...

Đa năng như vậy mà làm cho hay, cho đẹp thì vẫn là thứ xa xỉ ở nông thôn Việt. Song băn khoăn nhất, hồi hộp nhất là việc không hiểu người dân sẽ đón nhận công trình thế nào? Có bị xơ cứng, hình thức như phần lớn nhà văn hóa thôn bản khác - suốt ngày đóng cửa không? Làm sao tạo sức sống cho nó? Trước khi công trình hoàn thành, chúng tôi lo có thể người dân thờ ơ, vì cuộc mưu sinh bươn chải khiến họ mất hết thời gian, sức lực, không hơi đâu màng đến sinh hoạt tinh thần...

Bởi vậy, chúng tôi tập trung sâu vào những hoạt động thường nhật nhất, thiết thực nhất như không gian dành cho nhà trẻ, mẫu giáo thôn, một sân chơi bóng chuyền, bóng đá... hay đơn giản là tủ sách nhỏ cho các cháu.

Chứng kiến những trẻ chăn trâu thả trâu ở triền đồi, vào tầng trệt đọc sách, nghe tiếng vui đùa trong lớp mẫu giáo, hay chiều đến thanh niên thôn tụ tập đánh bóng chuyền trước nhà, thì bước đầu chúng tôi cảm thấy ấm lòng.

Công trình có phong thủy đắc địa, thế tựa sơn, tránh gió bão, lũ quét, mặt hướng thẳng ra thung lũng. Ảnh: Ashui.com

- Một công trình tự mình làm sẽ gửi đi thông điệp gì đó. Thông điệp chính mà anh muốn nhắn gửi lần này?

- Thứ nhất, về mặt chuyên môn, có thể hy vọng từng bước kiến tạo một ngôn ngữ kiến trúc nông thôn mới, vừa kế thừa truyền thống, lại có hơi thở ngày hôm nay: Hiện đại, thân thiện, tiết kiệm năng lượng. Mong muốn của tôi là qua công trình có thể kiểm chứng khả năng xây dựng một ngữ pháp kiến trúc Việt hiện đại? Bạn thấy đấy, kiến trúc nông thôn xưa rất đẹp thì kiến trúc nông thôn nay cũng phải xứng tầm. Làm cho nông thôn không chỉ là những chương trình "tình nghĩa", từ thiện nặng về hình thức, tạm bợ, lấy số lượng mà bỏ quên tính hữu dụng và thẩm mỹ.

Thông điệp thứ hai, về mặt xã hội, có hay không khả năng huy động các nguồn lực xã hội để giải quyết vấn đề kiến trúc nông thôn? Cốt lõi phải có những tổ chức trung gian, có thể dạng quỹ kiến trúc xã hội, nhằm kết nối các nguồn lực xã hội với người dân và chính quyền địa phương, vì để tự nông dân sẽ rất khó tiếp cận các nguồn lực đô thị.

Thông điệp thứ ba: Hy vọng phổ biến và nhân rộng quy trình thiết kế "3 xanh" cùng công nghệ xây dựng và phương thức vận hành nhà cộng đồng. Quy trình thiết kế "3 xanh" là xanh về mặt văn hóa xã hội, xanh về môi trường - kiến trúc và xanh về kinh tế - kỹ thuật. Công nghệ xây dựng chủ yếu tận dụng vật liệu, nhân công địa phương, kết hợp công nghệ truyền thống và cải tiến, tiết kiệm năng lượng, thân thiện.

Phương thức vận hành nhà cộng đồng: Có hoạt động thường xuyên và định kỳ. Chủ yếu diễn ra những sinh hoạt thường ngày, thiết yếu của dân làng, Kết hợp sinh hoạt định kỳ có tính hiện đại, cập nhật thông tin, kỹ thuật mới, giao lưu với văn minh đô thị.

Vì danh ư? Tôi nghĩ rất bình thường!

- Công trình rất được giới KTS chú ý và bàn luận. Anh có nhận phản hồi trái chiều nào không?

- Thật ra phản ứng trái chiều không nhiều. Thí dụ có người bảo nhà mở nhiều cửa thế thì mùa đông lạnh, hay tầng trệt như vậy sẽ bị ướt, ẩm thấp? Rồi giá thành xây dựng có cao không? Làm cho nông thôn nghèo mà sàn tre hơi xịn, hơi bị bóng. Cũng có ý kiến nói rằng ở bên Mỹ có mô hình tương tự làm cho nông thôn như ở văn phòng Rural studio của KTS Samuel Mockbee? Thậm chí tôi nghe phong phanh rằng công trình này có mục đích chính trị, hoặc vì cái danh...

70% dân mình vẫn ở nông thôn, và trong quá khứ kiến trúc đặc sắc nhất của người Việt là từ làng. Chúng ta mải chạy theo kiến trúc đô thị bỏ quên nông thôn quá lâu, nên trở về là tất yếu.

Hầu hết kiến trúc nông thôn xây dựng gần đây xấu là do người thiếu năng lực chuyên môn, hay họ cho rằng kiến trúc nông thôn đơn giản, không cần đầu tư công sức, chỉ cần "rẻ"?

- Bỏ qua những phản hồi về chuyên môn, anh lý giải thế nào về giá thành công trình và chuyện mục đích chính trị hay vì cái danh?

- Về giá thành, do đây là công trình đầu tiên mang tính thử nghiệm, không tránh khỏi những chi phí phát sinh, nhiều cái vừa làm vừa thử nên làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí vài chục lần nên chi phí đội lên, nhất là phí nhân công. Song song quá trình thử nghiệm, chọn hệ vì kèo, cấu kiện, module điển hình, là câu chuyện giao thoa văn hoá, bản sắc Kinh - Mường biểu hiện ra sao trong không gian hình khối? Vấn đề văn hoá cũng ảnh hưởng kinh tế...

Thứ hai, đây là công trình tự đầu tư, mọi chi phí mình tự trả, vật liệu, nhân công... Nếu công trình được nhân rộng, có thể huy động lao động công ích vào thứ bảy, chủ nhật, trong lúc nông nhàn hay sự góp sức của lực lượng thanh niên, tình nguyện... Cộng với vật liệu tại chỗ, lên kế hoạch trước, ngâm tre, gom đá, xử lý đất, thì giá thành sẽ rất rẻ.

Về mục đích chính trị: Mỗi vấn đề của kiến trúc, quy hoạch thường gắn với việc chia sẻ quyền lực. To như quy hoạch thành phố, nhỏ như xây một ngôi nhà đều liên quan tới những khía cạnh quản lý, luật pháp, tức là gián tiếp gắn với chính trị. Lâu nay công trình làm cho nông thôn chưa nhiều, chưa hiệu quả nên nếu có công trình đi vào cuộc sống thì hiển nhiên có ý nghĩa chính trị, xã hội nhất định.

Còn làm vì danh? Tôi nghĩ rất bình thường. Một người tâm huyết, khao khát làm gì chính đáng thì mong có danh với cuộc đời cũng là lẽ thường. Người làm nghề nào mà chẳng mong muốn tác phẩm của mình tốt, được xã hội công nhận? Vấn đề là công việc trong sáng, chính danh, tận lực hay không? Chuyện đến đâu để xã hội và thời gian trả lời.

Giải pháp kết cấu đơn giản, tiết kiệm, vật liệu địa phương sẵn có, theo nguyên tắc: Thống nhất trong tương phản đa dạng. Ảnh: Ashui.com

Lòng tốt phải đến đúng địa chỉ

- Công trình này là nỗ lực chủ yếu của cá nhân KTS, nhưng để nhân rộng mô hình không thể chỉ là nỗ lực cá nhân. Anh đã nhắc đến vai trò của tổ chức trung gian, và các anh cũng đã công bố ý tưởng thành lập Quỹ kiến trúc xã hội. Vậy anh có lạc quan về khả năng tham gia của xã hội? Sẽ cần những "bên liên quan" nào?

- Vấn đề phổ biến nhân rộng cực khó nếu là nỗ lực của chỉ một nhóm nhỏ, dù có tâm huyết đến đâu cũng không thể phát huy. Sự nghiệp này đòi hỏi hợp lực của nhiều tổ chức, cá nhân tâm huyết thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Tôi tin rằng trong xã hội luôn có những tấm lòng. Câu chuyện về môi trường, kiến trúc, cảnh quan, vệ sinh nông thôn cũng là câu chuyện lớn, cần chia sẻ và đóng góp của cộng đồng. Hy vọng sẽ có những Bill Gates, Waren Buffet của Việt Nam.

Song những tấm lòng đó phải gửi đến đúng địa chỉ. Kiến trúc nông thôn mà ứng xử không thận trọng sẽ đơn điệu, phi nhân văn như những căn hộ, những lồng sắt tập thể không bản sắc. Hiện đã và đang diễn ra quá trình đóng khung đời sống tinh thần nông thôn trong những mẫu nhà hộp - hình ống đô thị.

Quỹ chúng tôi cần và phải khẳng định được sự tin cậy cho những tấm lòng muốn chia sẻ.

- Tới đây anh sẽ dành bao nhiêu thời gian cho kiến trúc nông thôn? Bao nhiêu thời gian cho những công trình hiện đại?

- Có thể nói thế này, tất cả hoạt động chuyên môn của tôi, giảng dạy đại học, quy hoạch - thiết kế công trình là một tổng thể hữu cơ, khó phân định rạch ròi. Nhưng vài năm lại đây, câu chuyện kiến trúc xã hội choán phần lớn tâm trí tôi, tôi cảm nhận rằng con đường tìm kiếm một ngôn ngữ kiến trúc Việt hiện đại có thể hé lộ, phát lộ ra từ kiến trúc xã hội chăng?

Ngôi nhà này vừa là nhà trẻ - lớp mẫu giáo, vừa là chỗ đọc sách, không gian tụ họp, sinh hoạt văn hóa thể thao, cập nhật thông tin... kể cả tổ chức hội hè, cưới xin, ma chay... Ảnh: Ashui.com

- Anh có nghĩ xây dựng các công trình cho nông thôn bằng vật liệu địa phương, nhân công địa phương, thân thiện môi trường... là một xu hướng mà kiến trúc Việt Nam nên đi?

- Chỉ biết 70% dân mình vẫn ở nông thôn, và trong quá khứ kiến trúc đặc sắc nhất của người Việt là từ làng. Chúng ta mải chạy theo kiến trúc đô thị bỏ quên nông thôn quá lâu, nên trở về là tất yếu.

Hầu hết kiến trúc nông thôn xây dựng gần đây xấu là do người thiếu năng lực chuyên môn, hay họ cho rằng kiến trúc nông thôn đơn giản, không cần đầu tư công sức, chỉ cần "rẻ"?

Vấn đề cốt lõi để tìm ra cái đẹp và hữu dụng, chắc chắn cần những cá nhân, tổ chức dấn thân, cần cả tâm huyết song hành cùng khả năng nghề nghiệp, để khi xuất hiện nguồn lực xã hội sẽ cho kết quả xứng đáng.

Khánh Linh

nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-01-17-da-thay-lap-lo-ban-sac-kien-truc-viet-

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

110105- Người Việt Ăn Uống thế nào?

Từ xưa đến nay đã có rất nhiều bài viết về ẩm thực người Việt. Mỗi bài nói về một khía cạnh khác nhau như cách chế biến, mùi vị, cách dùng,..Nhưng chưa có một bài viết nào đưa ra được một sự đúc kết gần như hoàn hảo về ẩm thực Việt Nam qua bài viết của Giáo sư Trần Văn Khê dưới đây.

Phần 1:

Người Việt Ăn Uống Thế Nào và Cách Nấu Nướng Khác Với Người Trung Hoa Ra Sao?

Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi:

Người Việt Nam ăn uống thế nào ? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng? Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. Trong câu chuyện, một vài bạn trong báo Tuổi Trẻ thấy nhận sét sơ bộ của tôi có phần nào lý thú, nghe vui tai nên nhờ tôi ghi ra thành văn bản. Nể lời các bạn, tôi xin gởi đến các bạn đọc vài mẩu chuyện có thật về cách ăn và nấu ăn của người Việt chúng ta, và xin các tay nghề nấu ăn trong nước đừng cười tôi dốt hay nói chữ, dám múa búa trước cửa Lỗ Bang, đánh trống trước cửa nhà Sấm.

Trong một buổi tiệc, một anh bạn Pháp hỏi tôi:

- Chẳng biết người Pháp và người Việt Nam ăn uống khác nhau như thế nàỏ 

- Tôi rất ngại so sánh...tôi trả lời...vì so sánh là biết rõ rành mạch cả hai yếu tố để so sánh.

Thỉnh thoảng tôi có ăn uống theo người Pháp nhưng làm sao biết cách ăn của người Pháp bằng người Pháp chính cống như anh. Tôi thì có thể nói qua cách ăn uống của người Việt chúng tôị Để cho anh dễ nhớ, tôi chỉ đưa ra ba cách nấu ăn của người Việt, rồi anh xem người Pháp có ăn như vậy chăng?

Người chúng tôi ăn toàn diện, ăn khoa học, ăn dân chủ. 

1. Ăn toàn diện: Chúng tôi không chỉ ăn bằng miệng, nếm bằng lưỡi, mà bằng ngũ quan. Trước hết ăn bằng con mắt, và do đó có nhiều món đem dọn lên, nhiều màu sắc chen nhau như món gỏi sứa chúng tôi chẳng hạn: có giá màu trắng, các loại rau thơm màu xanh, ớt màu đỏ, tép màu hồng, thịt luộc và sứa màu sữa đục, đậu phộng rang màu vàng nâu v. v. . . Có khi lại tạo ra hình con rồng, con phụng, trong những món ăn nấu đãi đám hỏi, đám cướị Sau khi nhìn cái đẹp của món ăn, chúng tôi thưởng thức bằng mũi, mùi thơm của các loại rau thơm như húng quế, ngò, hoặc các mùi đặc biệt của nước mắm, của cà cuống. Răng và nướu đụng chạm với cái mềm của bún, cái dai của thịt luộc và sứa, cái giòn của đậu phộng rang để cho xúc cảm tham gia vào việc thưởng thức món ăn sau thị giác và khứu giác. Rồi lỗ tai nghe tiếng lốc cốc của đậu phộng rang, hay tiếng rào rào của bánh phồng tôm, hay tiếng bánh tráng nướng nghe rôm rốp. Sau cùng lưỡi mới nếm những vị khác nhau, hòa hợp trong món ăn: lạt, chua, mặn, ngọt, chát, the, cay v. v. Chúng tôi ăn uống bằng năm giác quan, về cái ăn như thế gọi là ăn toàn diện. 

2. Ăn khoa học: Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở Nhật Bổn thường hay sắp các thức ăn theo " âm" và " dương" .

Nói một cách tổng quát thì những món nào mặn thuộc về dương, còn chua và ngọt thuộc về âm. Người Việt thường trộn mặn với ngọt làm nước mắm, kho thịt, kho cá, rang tép, ướp thịt nướng, luôn luôn có pha một chút đường; mà ăn ngọt quá như chè, ăn dưa hấu hay uống nước dừa xiêm thì cho một chút muối cho âm dương tương xứng. Người Tây khi ăn bưởi thật chua lại cho thêm đường, đã âm lại thêm âm thì âm thịnh dương suy, không đúng theo khoa học ăn uống. Người Việt phần đông không nghiên cứu về thức ăn, nhưng theo truyền thống của cha ông để lại thành ra ăn uống rất khoa học. Người Việt chẳng những để ý đến quân bình âm dương giữa các thức ăn mà còn để ý đến quân bình âm dương giữa người ăn và thức ăn. Khi có người bị cảm, người nấu cháo hỏi: cảm lạnh ( bị mắc mưa, đêm ra ngoài bị cảm sương) thì nấu cháo gừng vì cảm lạnh ( âm) vào người phải đem gừng ( dương) vào chế ngự. Nếu cảm nắng ( bị mặt trời làm cho sốt) thì dương đã vào người phải nấu cháo hành ( âm) . Lại nghĩ đến âm dương giữa người ăn và môi trường; mùa hè thời tiết có dương nhiều nên khi ăn có canh chua ( âm) hoặc hải sâm ( âm) ; mùa đông thời tiết có âm nhiều nên ăn thịt nướng. Ta có câu:

Mùa hè ăn cá sông, mùa đông ăn cá biển

Quân bình trong âm dương còn thể hiện qua điếu thuốc làọ Thuốc lá phơi và đóm lửa (dương) hít một hơi cho khói qua nước lã trong bình (âm) để hơi khói thuốc vào cơ thể, nguồn hút có cả dương và âm, không kể nước đã lọc bớt chất nicotine có hại cho buồng phổị Chẳng những cân đối về âm dương mà còn hàn nhiệt nữa: thịt vịt hay thịt cá trê - hàn - thì chấm với nước mắm gừng - nhiệt -. Cách ăn của người Việt Nam khoa học vì phù hợp với nguyên tắc âm dương tương xứng hành nhiệt điều hòạ Ngoài ra trong một món ăn thường đã có chất bột, chất thịt, chất rau làm cho sự tiêu hóa được dễ dàng.

 

3. Ăn dân chủ: Trên bàn dọn bao nhiêu thức ăn, nhưng chúng tôi có thể những món chúng tôi thích, hoặc phù hợp với vấn đề bảo vệ sức khỏe của chúng tôi. Ăn ít hay ăn nhiều thì tùy theo sức chứa bao tử của chúng tôi, chớ không phải ăn những món không ăn được, hay là ăn không nổị Như vậy cách của người Việt Nam rất dân chủ.

Anh bạn người Pháp thích chí cười to: ăn toàn diện, chúng tôi chưa nghĩ đến là về thính giác, ăn mà nghe tiếng động là vô phép nên ăn bớt ngon. Ăn khoa học, thì chúng tôi chỉ nghĩ đến calory mà không biết âm dương và hàn nhiệt. Còn ăn dân chủ, thì hoàn toàn thiếu sót vì đến nhà chúng tôi có một thực đơn mà mỗi người một đĩa, ăn không hết sợ vô phép nên nhiều khi không ngon lắm hoặc quá no cũng phải cố gắng ăn cho hết. Tôi xin hoàn toàn hoan nghinh cách ăn của người Việt Nam.

Phần 2

Về cách ăn uống Việt Nam lại có thêm:

4. Ăn cộng đồng: Thức ăn đầy bàn mà có một nồi cơm, một tô nước mắm để mọi người cùng xới cơm và chan nước mắm ở một nơị

5. Ăn lễ phép: Con lớn lên đã theo học ăn, học nói, học gói, học mở. Học ăn là trước nhứt, khi ăn phải coi nồi, ngồi coi hướng.

6. Ăn tế nhị: Ăn ớt cử cách cắn trái ớt, có khi phải ăn ớt xắt từng khoanh, ớt bằm, ớt làm tương. Nước chấm nhứt là ở miền Trung rất tinh tế ăn món chi phải có nước chấm đặc biệt: bánh bèo, bánh lá, bánh khoái đều có nước chấm khác.

 

7. Ăn đa vị: Một miếng nem nướng đã có vị thịt, riềng, muối, tỏi, hành cuốn vào bánh tráng lạt lạt, có chút bún, rau thơm, ớt (cay) , chuối sống (chát) , khế (chua) , tương ( ngọt, mặn cay) có pha hột điều hay đậu phộng xay ( béo) . Ăn có năm vị chánh: ngọt, mặn, chua, cay, béo, có cả ngũ sắc đen (tương) , đỏ (ớt) , xanh (rau) , vàng (khế chín) , trắng (bánh tráng, bún) . Ăn một miếng mà thấy 5 màu, lưỡi nếm 5 vị và có khi hơn thế nữạ

Một lần khác, một anh bạn của tôi khai trương một tiệm ăn lớn tại Paris. Anh có mời đài phát thanh và báo chí đến để cho biết rằng tiệm của anh có cả thức ăn Trung Quốc và Việt Nam. Các phóng viên muốn biết Việt Nam và Trung Quốc nấu ăn có khác nhau như thế nàỏ Hai đầu bếp Việt Nam và Trung Quốc được mời ra để báo chí hỏi thì hai người đều khẳng định là cách nấu ăn rất khác, nhưng phải xuống bếp coi mới thấỵ

Nhà bếp nhỏ không chứa được mấy chục phóng viên, và ai cũng ngại hôi dầu hôi mỡ nên ông chủ tiệm nhờ tôi tìm câu trả lời cho các nhà báọ Tuy không phải là một chuyên gia về nghệ thuật nấu bếp, nhưng tôi cũng phải tìm câu trả lời thế nào để cho các nhà báo bằng lòng. Tôi mới nói rằng, tôi không đi vào chi tiết nhưng chỉ đưa ra ba điểm khác nhau trong cơ bản.

1. Cách dùng bột: Người Việt Nam thường dùng bột gạo trong khi người Trung Quốc thích dùng bột mì, cho nên Việt Nam có phở, hủ tiếu, bún thang, bún bò, bún riêu; mà người Trung Quốc thì chuyên về mì nước, mì khô, mì sợi nhỏ, mì sợi lớn, mì vịt tiềm. Người Việt làm bánh đùm, bánh xếp, bánh cuốn, bánh hỏi; người Trung Quốc thì bánh baọ Chả giò người Việt Nam cuốn bằng bánh tráng bột gạo; còn người Trung Quốc thì cuốn tép trong bánh bằng bột mì.

2. Nước chấm cơ bản của người Việt nam là nước mắm là bằng cá; còn nước chấm của người Trung Quốc là xì dầu làm bằng đậu nành.

3. Người Việt thì thường pha mặn ngọt; người Trung Quốc thích chua ngọt.

Chỉ nói đại khái như vậy mà các phóng viên đã hài lòng; về viết bài tường thuật nêu lên những điểm khác nhau ấỵ Ông giám đốc tạp chí Đông Nam Á, sau lời nhận xét đó, cho phóng viên đến phỏng vấn tôi thêm và hỏi tôi có biết yếu tố nào khác đáng kể khi nói về cách nấu ăn của người Việt khác người Trung Quốc ở chỗ nàỏ Tôi trả lời cho phóng viên trong 40 phút. Hôm nay tôi chỉ tóm tắt cho các bạn những điểm chính sau đâỵ 

a. Về rau: người Việt tuy có ăn rau luộc, hay xào; nhưng thích ăn rau sống, rau thơm, mà người Trung Quốc không ưa ăn rau sống, cải sống, giá sống.

b. Về cá: Người Trung Quốc biết kho, chưng, chiên như người Việt Nam. Nhưng người Trung Quốc có cá mặn không làm mắm như người Việt. Có rất nhiều cách làm mắm và ăn mắm: mắm thái, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm v. v. . . Các nước Đông Nam Á cũng có làm mắm nhưng không có nước nào biết làm nhiều loại mắm như người Việt.

c. Về thịt: Người Trung Quốc biết quay, kho, luộc xào, hầm như người Việt, mà không biết làm nem, bì và các loại chả như chả lụa, chả quế v. v. . .

d. Người Trung Quốc ít có phối hợp nhiều vị trong một món ăn như người Việt. Khi chúng ta ăn một món ăn như nem nướng thì có biết bao nhiêu vị: lạt lạt của bánh tráng, bún, hơi mát mát ngọt ngọt như dưa leo, và đặc biệt của giá sống trộn với khế chua, chuối chát, ớt cay, đậu phộng cà bùi bùi, và có tương mặn và ngọt. Người Việt trong nghệ thuật nấu ăn rất thích lối đa vị và tất cả các vị ấy bổ sung cho nhau, tạo ra một vị tổng hợp rất phong phú .

Cái ăn chiếm phần khá quan trọng trong đời sống của chúng tạ Khi dậy dỗ một trẻ em thì phải cho nó học ăn, học nói, học gói, học mở để biết ăn, nói với người tạ Ra đường phải biết " ăn bận" hay " ăn mặc" cho phải cách phải thế. Đối với mọi người không nên " ăn thua" làm chi cho bận lòng. Làm việc gì phải cẩn thận " ăn cây nào, rào cây nấy" . Trong việc tiêu tiền phải biết " liệu cơm, gắp mắm" và dẫu cho nghèo đi nữa " khéo ăn thì no, khéo co thì ấm" . Không nên ham ăn quá độ vì " no mất ngon, giận mất khôn" . Ra làm ăn phải quyết tâm đừng " cà lơ xích xui" chạy theo " ăn có" người khác. Phải biết " ăn chịu" với người làm việc nghiêm túc thì công việc khỏi bị " ăn trớt" . Không nên " ăn gian, ăn lận" hay bỏ lỡ cơ hội thì " ăn năn" cũng muộn. Trong cuộc sống nên tìm việc làm hữu ích cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước đừng để mang tiếng "ăn hại" "ăn bám" người khác. Khi đàn chơi phải biết lên dây đàn cho " ăn" với giọng ca, hòa đàn cũng phải " ăn" với nhau, " ăn ý" , "ăn rơ" thì mới haỵ Các bạn thấy chăng? Cái "ăn" cũng khá quan trọng nên mới lọt vào một số từ ngữ của tiếng nói Việt Nam.

Tuy chúng ta không như người Trung Quốc "dĩ thực vi tiên" nhưng phải có ăn mới làm nên việc vì có "thực mới vực được đạo"

Trần Văn Khê

nguồn: http://www.muivi.com/muivi/index.php?option=com_content&task=view&id=9728&Itemid=431#jc_allComments

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

101212- Ngắm những đôi hoa tai cực kỳ ấn tượng của phụ nữ Tây Bắc

Với phụ nữ Tây Bắc, trang sức - mà cụ thể là đôi hoa tai - không chỉ để làm đẹp, chúng còn thể hiện sự giàu sang, tính cách của người đeo và là một “vũ khí” phòng thân hiệu quả.
 >> Tận mắt ngắm những phụ nữ cưa răng, căng tai, xăm mặt làm đẹp

Đối với người Mông, trang sức cổ truyền thường là bạc trắng, có tác dụng ngăn chặn tà ma, gió độc. Đến nay người ta đã sử dụng các hợp kim nhôm để hạ giá thành của đồ trang sức nên kích cỡ của đôi hoa tai cũng vì thế mà to hơn. Một chiếc hoa tai vòng lớn có thể có chu vi từ 12 đến 15 cm.

 

Hình dáng những đôi khuyên tai có 5 dạng chính: Hình giống dấu hỏi, hình xoắn ốc, hình trăng lưỡi liềm, hình tròn khắc hoa văn, hình tròn đính các tiểu tiết.

 

Trên bề mặt đồ trang sức người ta hay trạm trổ những hình chim mỏ dài, hoa 5 cánh và các dạng hình học khác. Những tiểu tiết đính kèm thường là hình hoa bí, các loại công cụ sản xuất như hình con dao phát, dao quắm...

 

Người phụ nữ đeo những khuyên tai to được coi là những người khoẻ mạnh, chăm chỉ làm ăn. Chính vì lẽ đó nên cô gái Tây Bắc nào khi đi hội cũng muốn đeo đôi khuyên to nhất có thể.

 

Hãy cùng Dân trí ngắm một vài đôi hoa tai vô cùng độc đáo và đẹp mắt của phụ nữ Tây Bắc.
 















Phạm Ngọc Bằng

nguồn:http://dantri.com.vn/c20/s20-443471/ngam-nhung-doi-hoa-tai-cuc-ky-an-tuong-cua-phu-nu-tay-bac.htm  

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

100612- Cái khó của đô thị là không nhìn thấy căn bệnh dàn trải?

Không nhận diện được Tài nguyên Di sản đặc trưng của thủ đô. Không đề xuất được mô hình phát triển. Với các ý tưởng mơ hồ, tự phát. Cùng với việc đề cao quá mức các đô thị quần cư, Quy hoạch Hà Nội đã biến thành một dự án bất động sản khổng lồ.

Tài nguyên di sản - Gánh nặng hình thức hay Động lực phát triển?

Trên thế giới hiện nay còn khoảng 29 thủ đô các quốc gia và vùng lãnh thổ có lịch sử 1000 năm tuổi; Bao gồm: Tunis (Tuy ni di); Tashkent (Uzbekistan); Jerusalem (Israel); Baghdad (Iraq); Algiers (Algieria); Vienna (Áo); Vientiane (Lào); Rome (Italia); Prague (CH Séc); Paris (Pháp); Nicosia (Đảo Síp); Lisbon (Bồ Đào Nha); Kiev (U-crai-na); Dublin (Ai-len); Bắc kinh (Trung Quốc); Budapest (Hung-ga-ri); Brussels (Bỉ); Bratislava (Slo-va-kia); Athens (Hy lạp); Yangon (Mi-an-ma); Cairo (Ai Cập); Beirut (Li băng); Damascus (Si-ria); Delhi (Ấn Độ); London (Anh); Sofia (Bun-ga-ri); Madrid (Tây Ban Nha); Seoul (Hàn Quốc); Hà Nội (Việt Nam).

Trong bảng xếp hạng 100 các thành phố có GDP cao nhất thế giới có 49 thủ đô; 15/ 29 thành phố 1000 năm tuổi thuộc nhóm này; 3 thành phố thuộc top 10; 10 thành phố thuộc top 50.

Sự thành công của các thành phố này là đáng tự hào. Điều này nói lên rằng Tài nguyên di sản (đô thị và nông thôn) đóng vai trò rất quan trọng.

Kinh tế di sản mang lại hiệu quả cao, vốn đầu tư thấp, song khó làm. Cũng như các ngành kinh tế giá trị gia tăng khác, rất cần nguồn nhân lực trình độ cao và sự đồng bộ của hệ thống. Tại Anh, hàng năm ngành kinh tế này cho một khoản thu nhập trên dưới 60 tỷ bảng (cao hơn GDP Việt Nam).

Tuy nhiên, phần đông (đặc biệt những nước chậm phát triển hoặc mới phát triển như nước ta) lại coi như một gánh nặng, không mang lại lợi ích cho đời sống hiện tại. Nhận thức này không chỉ nằm trong nhận thức trong xã hội mà còn ở trong suy nghĩ của những người có thẩm quyền; ở ngay chính những người làm quy hoạch. Vì vậy, việc bảo tồn di sản phần lớn chỉ mang tính hình thức (làm cho có).

Vậy Tài nguyên di sản của Hà Nội là gì?  Câu hỏi tưởng chừng rất dễ, song trả lời cho đầy đủ thật không đơn giản.

Lý do, nhận diện di sản là một quá trình, cái hôm nay ta đang coi rẻ, ngày mai đã trở thành vốn quý. Ai cũng có thể nói về di sản kiến trúc, văn hóa, lịch sử, khảo cổ, nghệ thuật, di sản thiên nhiên (đã được xếp hạng) theo số đông, cái đã được thừa nhận. Song ứng xử với di sản thường không nhất quán.

Hơn thế, những cái có giá trị thường khó nắm bắt. Bảo tồn những cái sờ nắm được cũng đã khó, bảo tồn những di sản không nhìn thấy được khó hơn nhiều. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến các vấn đề Tài nguyên di sản cốt lõi của thủ đô Hà Nội (xin không nhắc lại những di sản phổ thông mà ai cũng biết) mà quy hoạch chung thủ đô Hà Nội không thể bỏ qua. Ngược lại, phải kế thừa và coi như Nền tảng, động lực phát triển trong nhiều thế hệ.

Vậy, Tài nguyên di sản Thăng Long - Hà Nội đặc trưng là gì?

Trước khi trả lời câu hỏi này cần trả lời được những câu hỏi khác:

Tại sao trong lịch sử dựng nước, giữ nước, triều đại nào chọn Thăng Long Hà Nội (Ba Đình) làm thủ đô đều thịnh trị lâu bền?

Tại sao các bậc quân vương muốn cai trị đất nước bền vững đều phải tìm cách thuyết phục "sĩ phu Bắc hà" ủng hộ (mà sĩ phu Bắc hà lại chính là nhân tài quốc gia tụ hội về Thăng Long)?

Tại sao khi đất nước lâm nguy, chiến tranh kéo dài, lòng dân (cả nước) luôn hướng về Hà Nội?

Câu trả lời: Thăng Long - Hà Nội có di sản không phải thủ đô nào cũng có được đó là Di sản Niềm tin. Mất Hà Nội tức là mất nước, rời bỏ Hà Nội tức mất Niềm tin, hy vọng.

Tại sao trong 100 thành phố có GDP lớn nhất thế giới có tới 49 thành phố là thủ đô. Cả 3 trung tâm kinh tế, tài chính thế giới đều đang là thủ đô (Tokyo >600 năm), (London >1000 năm) hoặc đã từng là thủ đô (New York >200 năm). Các trung tâm tài chính đều đặt trong khu vực trung tâm, các khu vực đô thị lâu đời?

Tại sao các thành phố ban đầu chỉ với chức năng chính trị và văn hóa sau đó lại thành công về kinh tế như Washinton, D.C - hạng 11/100; Brasillia - hạng 56/100?

Tại sao các thành phố đông đúc, đắt đỏ như Tokyo, New York, London, Seoul, Delhi mà dân số vẫn không ngừng tăng. Các quốc gia này lại coi sự đô hội này như động lực phát triển?

Tai sao các thành phố thủ đô bao giờ cũng là trung tâm chính trị (chính phủ, nhà nước), văn hóa, lịch sử?

Câu trả lời: Đây là Di sản Chức năng - di sản đặc trưng của thủ đô; rời bỏ các chức năng này, thủ đô chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa; không thể tách rời kinh tế, chính trị và văn hóa, các chức năng này luôn hàm chứa trở thành nhất thể thủ đô, chỉ khác ở thứ tự ưu tiên mà thôi.

Tai sao văn hóa, đời sống Thăng Long - Hà Nội luôn được coi là chuẩn mực về thanh lịch, văn minh, văn hiến, đều được các địa phương và khách quốc tế lấy làm cơ sở văn hóa Việt Nam.

Tại sao giá đất, giá nhà Hà Nội, của ngon vật lạ từ các địa phương mang về gắn nhãn Hà Nội luôn đắt hơn nơi khác?

Câu trả lời: không chỉ là di sản tên gọi (hay địa danh), đây (tạm gọi tên) là Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống; tất cả các thủ đô (lâu dời) đều có dạng di sản này!

Hà Nội đã mở rộng, và thu hẹp nhiều lần, văn hóa mỗi vùng đất không thể sau một quyết định hành chính để trở thành vùng văn hóa khác.

Trong khi Hà Nội cũng giống như các thành phố thủ đô khác trên thế giới với đặc trưng mở, giao lưu, dung nạp thì Hà Tây (điển hình là vùng Ba Vì, Sơn Tây) văn hóa hoàn khác biệt.

Với những đặc trưng văn hóa vùng, Xứ Đoài luôn khép kín. Di sản đặc trưng là các công xã nông thôn có đời sống hướng nội, coi trọng truyền thống hơn sự thay đổi. Các hoạt động tâm linh được coi trọng hơn đời sống thực tế. Vì vậy, mới còn tồn tại Làng cổ Đường Lâm, Chùa Mía, Chùa Thầy, Chùa Tây phương, Đền Và, Đình Chu Quyến. Gần sát Hà Nội, người Sơn Tây vẫn duy trì phương ngữ "nói không dấu". Song, không mặc cảm.

Chúng tôi tin, người Hà Tây tự hào là người thủ đô chứ không tự hào là người Hà Nội.

Cũng giống như các vùng nông thôn khác trong tam giác đồng bằng Bắc bộ. Chính sự kiêu hãnh này đã giúp cho Việt Nam bảo vệ được bản sắc văn hóa của dân tộc dù đã bao lần bị ngoại xâm đô hộ.

Vậy di sản này gọi tên là gì?

Câu trả lời: đây là Di sản Công xã nông thôn Việt Nam; trước kia Hà Nội đã từng có di sản này tại các làng nghề ven đô (Ngọc Hà, Đại Yên, Vạn Phúc, Nhật Tân, Thọ Xương, Ngũ Xã v.v). Rất tiếc, giờ không còn nữa; Di sản này luôn gắn với đất lúa và vùng canh tác nông nghiệp.

Với việc đề xuất dời đô lên Ba Vì vào năm 2030 ~ 2050 đồ án đã đánh mất đi Di sản Niềm tin (rất dễ hiểu vì sao ý tưởng này không nhận được sự ủng hộ trong công luận và nhân dân).

Việc kết nối, phân bổ các đô thị dàn trải đã làm lẫn, mất đi sự khác biệt về không gian, xóa nhòa địa danh, văn hóa vùng và cực điểm là ý tưởng đề xuất trục Thăng Long đã cùng lúc tạo nên hiệu ứng kép:

Một mặt, ý tưởng quy hoạch này làm mất đi các tính chất đặc thù của các vùng đất, làm mất đi di sản được gọi Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống. Mà với di sản này phải hiếm mới quý (Paris, trải qua rất nhiều thế kỷ không mở rộng không gian đô thị thủ đô mới tạo ra giá trị gia tăng đáng kinh ngạc như đã nêu). "Tương phản tương sinh, tương đồng tương khắc" những gì khác nhau sẽ tôn lên, những gì giống nhau sẽ triệt tiêu lẫn nhau.

Mặt khác, với trục Thăng Long (khổng lồ) là 1 đề xuất theo phong cách Duy lý, thịnh hành vào thế kỷ 17 - 18 (Rene Descartes 1596-1690), không phù hợp với văn hóa Việt Nam vốn chuộng sự tinh tế và khiêm nhường; cùng lúc ứng sử thô bạo với di sản đô thị, nông thôn cả văn hóa Tràng An lẫn Xứ Đoài chứ không phải kết nối như ai đó đã nói: "Trục này vừa để phát triển kinh tế - xã hội, vừa để phát triển giao thông, vừa kết nối văn hóa giữa các vùng xứ Đoài với Thăng Long" ; nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Chua-quyet-dia-diem-xay-Trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-905539/ Thực chất đây chỉ là ngụy biện, vì xưa nay không ai có thể kết nối văn hóa bằng một trục đường thẳng cứng và thô bạo như vậy cả, trên toàn thế giới.

Trục đường này chiếm đất lúa tới (350m*30km) 1.050ha không thể nói như một cách để bảo vệ Di sản (bối cảnh) Công xã nông thôn Việt Nam được nữa.

Ngoài ra, cũng cần phải nói thêm, bảo tồn di sản cần nhất sự đồng bộ, vì vậy, sẽ là khiếm khuyết nếu không nhắc tới việc khôi phục các dòng chảy vốn được coi là đặc trưng của Hà Nội: cần kết nối Sông Tô lịch với Hồ Tây (không nên để thế hệ sau phải làm như Hàn Quốc khôi phục con suối Cheonggyecheon ở Seoul);

Với việc không có ý tưởng phát triển khu vực nội đô (tương tự như các thành phố giàu truyền thống khác đã phân tích ở trên) thành các trung tâm kinh tế (tài chính), thương mại, đồ án đã đánh mất đi Di sản Chức năng vốn đã, đang và sẽ là các động lực, năng lực cạnh tranh có chiều sâu cho tất cả các trung tâm kinh tế thế giới và biến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, du lịch Châu Á - Thái Bình Dương của thủ đô Hà Nội trở thành vô vọng.

Không kế thừa lợi thế có sẵn, thay mới đổi cũ không có lý do, đây chính là bẫy thu nhập trung bình của các nước Đông Nam Á mà qua cách nghĩ, chúng ta đang sa vào, với đồ án này.

Bài toán dễ là đặt ra các vấn đề bảo vệ di sản (kiến trúc, di sản văn hóa, lịch sử, vật thể và phi vật thể bằng lời) chỉ mang tính thủ tục. Đề xuất kế hoạch làm mới các Trung tâm Chính trị, Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế, làm nghèo đi Trung tâm Văn hóa, lịch sử, tập trung quy hoạch các đô thị quần cư  như các nội dung đã có trong đồ án. Điều này cũng có nghĩa khả năng kế thừa di sản đô thị chỉ là tối thiểu và hình thức.

Bài toán khó là trong khuôn khổ quy hoạch chung, cần có cái nhìn chiến lược ở quy mô bảo tồn cấu trúc Tài nguyên di sản (đô thị và nông thôn). Trong đó Di sản Niềm tin, Di sản Chức năng, Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống, Di sản Công xã nông thôn sẽ trở thành nền tảng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản khác.

Bài toán khó là dành quỹ đất xung quanh Hồ Tây, Ba Đình cho các chức năng chính của thủ đô: Trung tâm Chính trị - Văn hóa - Lịch sử quốc gia; Khu vực Hồ Gươm, Phố cổ cho các chức năng Trung tâm Hành chính - Văn hóa - Lịch sử thành phố Hà Nội; Khu vực phố cũ cho các chức năng Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế.

Bài toán khó là để Tài nguyên Di sản trở thành Động lực phát triển thực sự. Chỉ có như vậy mới khai thác được ưu thế cạnh tranh, biến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, du lịch Châu Á - Thái Bình Dương của thủ đô Hà Nội trở thành hiện thực.

Mô hình phát triển của đô thị thủ đô - Mơ hồ, tự phát hay Chủ kiến, chủ động?

Trên thế giới, các thành phố thủ đô không có một mô hình duy nhất để phát triển. Tuy nhiên, sự thành công lại có chung một đặc điểm: cần phải kiên định với các mục tiêu, tầm nhìn đã đề xuất. Điều khác biệt ở chỗ là phải hiểu biết thành phố muốn gì, tới đâu; cơ sở thực tiễn cho mục tiêu là gì, dung lượng rủi ro và khả năng hiện thực hóa theo giới hạn thời gian.

Một thành phố, nếu để tự nhiên sẽ không cần mô hình phát triển định trước. Sự phát triển của thành phố sẽ là tốt khi chuyển dịch chậm rãi. Tại các thành phố này, tính ngẫu nhiên luôn chiếm ưu thế; đặc biệt đối với các thành phố có bề dày lịch sử. Việc định ra một mô hình phát triển cụ thể, thậm chí phản tác dụng.

Cũng có không ít các thành phố lại cho thấy điều ngược lại: cùng với sự hình thành 1 cách mau lẹ, các thành phố mới nổi rất cần có những định hướng từ trước thông qua các mô hình phát triển (phải được nghiên cứu kỹ lưỡng và thấu đáo).

Sự mơ hồ, tự phát, thiếu chủ kiến, chủ động sẽ đẫn đến sự bất công và hỗn loạn.

Trong khi, ở nơi này một số người không có nơi trú ngụ, không mảnh đất cắm dùi; ở nơi kia có những căn biệt thự bỏ không, để đất đai hoang hóa.

Tiếc thay, đây lại là sự thực của Hà Nội; và sự thực sẽ không ngừng ở đây khi mà trong chính bản quy hoạch đang đệ trình. Mô hình phát triển hoàn toàn vắng mặt dẫn dến một loạt các ý tưởng mơ hồ, thiếu luận cứ;

Cơ hội đang dần biến mất, trong khi hiểm họa xã hội lại càng ngày càng rõ nét, nếu thực thi theo ý tưởng của đồ án này. Có những sự tùy tiện, tùy hứng. Trong khi đó, tại các quốc gia phát triển khác, người ta giải quyết rất tốt vấn đề này, rất thành công về đô thị trong cả nghiên cứu quy hoạch, thực thi, quản lý phát triển.

Thành phố thủ đô có thuận lợi hơn các thành phố khác vì được thừa hưởng vị thế quốc gia. Ngược lại, hình ảnh, sức sống của thành phố này cũng ảnh hưởng trở lại tới vị thế của đất nước.

Phương pháp quy hoạch theo mục tiêu có thể xuất phát từ những kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia khác. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn (thuộc nhóm G20).

Các số liệu, Biểu đồ (1) và Biểu đồ (2) cho thấy điều gì?

(1) 15/29 thành phố thủ đô 1000 năm tuổi nằm trong top100 các thành phố có GDP lớn nhất Hành tinh. Điều này khẳng định cơ hội phát triển đối với các thủ đô giàu truyền thống rất thuận lợi. Kinh tế di sản là một ưu thế cốt lõi của các thành phố này.

(2)  16/18 nước nhóm kinh tế lớn có thủ đô nằm trong top 100  thành phố là trung tâm kinh tế thế giới. Điều này thể hiện sự hưng thịnh của một quốc gia luôn gắn kết với sự phát triển, đẳng cấp của thành phố thủ đô.

(3) 4/18 thành phố thủ đô có mô hình chuyên biệt; trong đó Washington, D.C (hạng 11/100) và Brasilia (hạng 56/100) đã thành công khi chuyển đổi từ một đô thị hành chính sang mô hình phức hợp (văn hóa, lịch sử và du lịch) xuất phát từ thành công của quy hoạch đô thị, kiến trúc và hệ thống quản trị tốt. Ottawa và Canberra khả năng chuyển đổi mô hình diễn ra chậm hơn, vì vậy, sự thành công về kinh tế chưa đạt tới đẳng cấp của hai thành phố nói trên. Mô hình đô thị quyền lực nhà nước kết hợp văn hóa - lịch sử cũng có khả năng mang lại thịnh vượng cho quốc gia bằng phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.

(4) 14/18 thành phố có mô hình phức hợp, dựa trên nền tảng đô thị lịch sử, địa điểm truyền thống; Duy trì mật độ dân cư đô thị cao, có quy mô dân số thuộc nhóm lớn. Hiện nay, không còn thành phố nào (trong nhóm này) phát triển dựa vào hạt nhân công nghiệp. Các đô thị thủ đô (và các thành phố đã từng là thủ đô) đều phát triển theo mô hình lấy độ lớn thị trường thành phố, du lịch, dịch vụ và đặc biệt ngành tài chính làm hạt nhân phát triển.

Tiếp theo, trong 61 thành phố đông dân nhất thế giới; có 20 thành phố: Karachi, Pakistan (3/61); Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ (5/61); Kinshasa, Congo (17/61); Lima, Peru (18/61); Bogotá, Colombia (20/61); Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam (21/61); Bangkok, Thái lan (22/61); Lahore, Colombia (26/61); Thiên Tân, Trung Quốc (29/61); Santiago, Chile (33/61); Trùng Khánh, Trung Quốc (35/61); Alexandria, Ai Cập (40/61); Shenyang, Trung Quốc (41/61); Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ (45/61); Johannesburg, Nam Phi (46/61); Abidjan, Côte d'Ivoire (48/61); Cape Town, Nam Phi (51/61); Durban, Nam Phi (52/61); Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên (55/51); Jeddah, Ả Rập Saudi (61/61); Trong đó: Thành phố có diện tích đô thị lớn nhất (Kinshasa): 9.965km2; nhỏ nhất (Jeddah): 1.230; Thành phố có số dân đông nhất (Karachi): 12.991.000 (hạng 3); ít nhất (Jeddah): 3.012.000 (hạng 61).

Các thành phố này đều có chung đặc điểm:

(1) Duy trì mật độ dân cư ở mức thấp <6.500/km2;

(2) 9/20 là thành phố thủ đô; không thành phố thủ đô nào (thuộc nhóm này) nằm trong top 50/100 của Danh mục các thành phố thủ đô là trung tâm kinh tế (GDP năm 2008);

(3) Không có thành phố nào thuộc nhóm thủ đô 1000 năm tuổi;

Như vậy, mật độ thấp và quy mô rộng lớn không phải là điều kiện cốt lõi cho sự thành công và trình độ phát triển, sức hấp dẫn của đô thị thủ đô. Ngược lại, sự mở rộng thái quá sẽ làm suy giảm các nguồn lực mà các quốc gia nghèo thường mắc phải.

Mô hình thành phố phát triển theo chiều rộng, không tạo ra việc làm tại chỗ và có cấu trúc càng ngày mở rộng sẽ là nguyên nhân chính gây tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường (Bangkok và Thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ).

Dễ dãi trong quản lý đất đai dẫn đến không gian đô thị sẽ không ngừng giãn ra. Điều này, đối với xã hội giống như cho uống thuốc độc - càng uống càng khát!

Khó khăn trong quản lý đất đai sẽ tạo ra những thách thức, kích thích trí sáng tạo của xã hội. Đây mới là cơ hội giúp chúng ta thoát khỏi lời nguyền tài nguyên.

Vậy mô hình phát triển của Hà Nội sẽ như thế nào?

Trước hết, phải khẳng định không có mô hình lý tưởng hay chuyên biệt (bền vững) như một số người nghĩ; Bởi khi thành công, các đô thị này đều có khuynh hướng phức hợp hóa chức năng. Hiệu quả sử dụng tài nguyên của hai thành phố: Washington D.C. với diện tích 177km2; GDP 375 tỷ USD; xếp hạng 11/100. Hiệu suất GDP: 2,119 tỷ USD/km2 và  Brasilia GDP 110 tỷ USD, xếp hạng 56/100. Cũng phải nói thêm Washington D.C. có lợi thế không thể so sánh do vị thế quốc gia của Hoa Kỳ. Brasilia có lợi thế là thủ đô của một nước đông dân thứ 5 thế giới và thành phố đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1987 do thành công của sáng tạo quy hoạch và kiến trúc; Như vậy, hai thành phố này từ những đô thị chuyên biệt (hành chính - quyền lực nhà nước) đã trở thành những đô thị phức hợp bao gồm kinh tế du lịch và dịch vụ.

Trong Danh mục các thành phố là trung tâm kinh tế (GDP năm 2008), Cùng với Thành phố New York và London, Tokyo có nền kinh tế đô thị lớn nhất trên thế giới; cả 3 thành phố này đều đang là thủ đô (hoặc đã từng là thủ đô); 6 thành phố thủ đô nằm trong top10; 10/ top 20; 23/ top50; 45/ top 100. Các thành phố này đều nằm trong số những thành phố có số dân đông và mật độ dân dư đô thị cao nhất.

Chúng tôi xin nhắc lại xét về khía cạnh kinh tế, đô thị thủ đô luôn chiếm được sự thuận lợi tự nhiên về thị trường cũng như đẳng cấp (phân khúc trên) của hàng hóa.

Không phải ngẫu nhiên mà thành công!

Mô hình phát triển đô thị phải xác định được rõ các hợp phần: phát triển nguồn lực (tài nguyên, tài chính, nhân lực, thị trường) phát triển chức năng; phát triển kinh tế; phát triển dân cư; phát triển hạ tầng xã hội; phát triển tiện nghi đô thị; phát triển không gian; phát triển hạ tầng kỹ thuật, làm tiền đề xác định giải pháp đô thị hóa; xác định quy mô, cấu trúc đô thị phù hợp với mô hình phát triển đô thị.

Phải xác định được hạt nhân phát triển có khả năng cạnh tranh thực sự về lượng và chất với các đô thị khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Trong đó nguồn lực con người với dân số đông, trẻ, tập trung sẽ trở thành sức mạnh chính (giai đoạn đầu) của đô thị; (Các nước Châu Á vốn chiếm ưu thế về thị trường đông đúc - đây cũng là bảo đảm cần thiết cho sự thịnh vượng của các thành phố như Tokyo, Thượng Hải, Seoul, Delhi, Mumbai).

Nghiên cứu, đề xuất và lựa chọn mô hình phát triển sẽ là sản phẩm có giá trị lớn nhất về mặt trí tuệ; thiếu nội dung này đồ án quy hoạch sẽ trở nên tầm thường. Tiếc thay, đây lại là sự thật.

Không đề xuất được mô hình phát triển; Với các ý tưởng mơ hồ, tự phát; Cùng với việc đề cao quá mức các đô thị quần cư, Quy hoạch Hà Nội đã biến thành một dự án bất động sản khổng lồ.

Đồ án mới chỉ đề xuất mô hình phát triển không gian; và dùng công cụ này giải quyết tất cả; Đây là một sai lầm có tính hệ thống, một bài toán ngược!

Một đồ án thực hiện một hệ thống các đô thị của một thủ đô ngàn năm tuổi, diện tích >900km2; dân số tới >9 triệu người mà không có mô hình phát triển làm cơ sở tư duy và kiểm soát hệ thống đã khiến chúng tôi kinh ngạc.

Xét trên phương diện này; đồ án Quy hoạch Hà Nội cũng giống như các đô thị của Việt Nam đã hình thành theo cùng một cách; Người ta vẫn theo tư duy định trước những đơn vị ở (dù là một thành phố cũng như đơn vị ở phóng to); Tất cả các nội dung của thành phố đều đã đóng gói sẵn sàng, được sử dụng đi, sử dụng lại cho nhiều thành phố khác nhau.

Trong thực tiễn thế giới (ưu việt), sự phát triển thành phố thường theo hướng ngược lại: Với một quỹ đất định trước cần suy nghĩ sao cho việc năng cao hiệu suất sử dụng đất ngày càng được cải thiện; Mô hình đô thị phải giải quyết được sự giảm thiểu các chuyển động theo phương ngang vốn là biểu hiện của tiện nghi đô thị thấp kém và là nguyên nhân của việc tắc đường hiện nay.

Một đô thị tốt cần phải giải quyết các chức năng như một động lực phát triển; Đồ án quy hoạch chung Hà Nội đề xuất một kế hoạch giãn dân ra khỏi khu vực nội đô (400.000). Kế hoạch này thể hiện một tư duy sai lầm đã có trước. Bởi, bất chấp mọi nỗ lực chống lại sức hút đô thị sự gia tăng dân số trong các đô thị dù có muốn hay không (việc này) cũng không thay đổi được điều gì.

Hơn thế, về mặt nhận thức, tồn tại suy nghĩ này là không thể hiểu được đối với đô thị học hiện đại; Bởi nó trái ngược hoàn toàn với mục tiêu phát triển. Cách nghĩ này có thể biến những đô thi phồn hoa trở thành hoang phế. Chính cách nghĩ này đã biến Thành phố Hồ Chí Minh đi từ Hòn Ngọc Viễn Đông tới đô thị của ngập lụt, ô nhiễm, rác thải, khói bụi và tắc đường.

Đô thị có rất nhiều tham số tác động; việc đề xuất các mô hình phát triển nhằm giúp cho các mục tiêu tiệm cận dần với thực tiễn; đô thị luôn gắn liền với một điều kiện định trước: đó là một quỹ đất giới hạn có nhiệm vụ phải đáp ứng sự biến động không ngừng của dân số đô thị; nó phải gắn kết, giải quyết xung đột  giữa mong mong muốn đáp ứng thật nhiều, ngày càng nhiều hơn các nhu cầu và sự không ngừng gia tăng các phát kiến công nghệ; một mặt công nghệ giúp cho nâng cao hiệu suất đô thị; mặt khác, sự lệ thuộc vào các kế hoạch định sẵn sẽ làm cho đô thị trở nên kém linh hoạt.

Khả năng thích ứng với sự biến động của xã hội sẽ xác định năng lực dung nạp hay khước từ của đô thị. Đây chính là đẳng cấp!

Giải pháp tốt là phải đưa ra những mô hình phát triển tối ưu so với điều kiện hình thành của nó. Tức thay vì tìm mọi cách để giảm thiểu sự gia tăng cơ học làn sóng di cư vào đô thị; cần chủ động hơn trong việc điều tiết theo nguyên tắc thị trường và nâng cao năng lực dung nạp của đô thị kèm theo giá phải trả của tiện nghi; Giá cả thị trường mới là nhân tố điều tiết đô thị chứ không phải giải pháp hành chính.

Người ta thường nhìn thấy những mặt trái của đô thị khi gặp phải những vấn nạn hiện nay của đô thị Việt Nam đã dẫn đến tư duy khôi hài là quy hoạch dường như chỉ có một mục tiêu là giãn dân và chống tắc đường. Người ta chưa một lần nhận thấy căn bệnh tư duy quy hoạch dàn trải mới chính là nguyên nhân gây ra các khó khăn của đô thị hiện nay.

Mô hình đô thị đa trung tâm cũng đã bị hiểu sai nghiêm trọng, khi người ta đề xuất có tới 3 trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia (cùng lúc hay cách 20, 40 năm cũng không gì khác nhau) bởi không phải chức năng nào cũng có thể phân bố rộng khắp. Đa trung tâm chỉ đúng với các dịch vụ thông thường và nguồn việc làm phổ thông.

Dịch vụ công chỉ có ở cấp cơ sở, sẽ không tồn tại dịch vụ công ở cấp Chính phủ, trước kia, bây giờ và sau này cũng như vậy. Càng kéo giãn thì càng xuất hiện dao động giao thông kiểu con lắc. Chính những dao động này khiến cho lưu lượng các phương tiện giao thông luôn luôn quá tải so với dự tính, chính chúng tạo ra sự hỗn loạn giao thông.

Mô hình phát triển không gian chỉ là hệ quả của mô hình phát triển; được khống chế bởi các giới hạn tài nguyên, năng lực, tiện nghi đô thị.

Xin nhắc lại: Sức hút của đô thị nằm ở chỗ đô hội. Sức mạnh của đô thị là tạo ra cỗ máy hoàn hảo (trong đó có khả năng phục hồi sức khỏe cả tinh thần và thể chất), dung nạp được nhiều người song vẫn không tạo ra sự cố về môi trường tự nhiên và xã hội.

Đô thị thủ đô một quốc gia phải là nơi quần tụ của các cư dân của đất nước đó, đến và đi, thành phố không có quyền khước từ.

Đô thị "thủ đô" của thế giới (Roma; New York; London; Paris; Tokyo; Washington D.C và các thành phố khác) cũng như vậy, không bao giờ khước từ nhân loại đến từ bất kỳ phương trời nào; Đây chính là sức mạnh cốt lõi, là động lực phát triển không riêng cho thành phố mà còn cho cả quốc gia và thế giới.

Nhận thức được điều này, khi kế hoạch di chuyển thủ đô của Hàn Quốc được chính phủ đệ trình, Lee Myung-bak (Tổng thống Hàn Quốc - Thị trưởng Seoul tại thời điểm đó, một chính trị gia và là doanh nhân tỷ phú), đã chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch này. Ông nói với báo chí rằng di chuyển vốn sẽ làm tổn hại lớn cho nền kinh tế Hàn Quốc và làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nó.

Sau này, Tổng thống Lee Myung-bak nói rằng đó là một việc "đáng xấu hổ" - "shameful"; nguồn: http://www.citymayors.com/environment/korea_newcapital.html; http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2010/01/116_58821.html).

Đây chính là bài học về Tầm nhìn tri thức!

Ngược lại, trong đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; Ý tưởng lặp đi lặp lại và có vẻ như chủ đạo là giãn dân, mở rộng tràn lan không gian đô thị; Ấu trĩ thay!

Trong khi đồ án khẳng định mục tiêu của quy hoạch là làm sao nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; Câu hỏi được đặt ra ở đây là Hà Nội sẽ cạnh tranh bằng gì?

Bài toán dễ là cứ triển khai đồ án quy hoạch theo thói quen, mơ hồ, tự phát như hiện nay, sử dụng vốn vay và (bán rẻ) quỹ đất ("Mặt mạnh của Hà Nội chính là quỹ đất" nguồn: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201005/Khong-de-tien-sot-dat-Ha-Noi-vao-tui-tu-nhan-913311/ ); và không có gì khác về mô hình phát triển?

Về vấn đề này, chúng tôi cũng nghĩ như Tổng thống Lee Myung-bak rằng đó là một việc "đáng xấu hổ" - "shameful".

Bài toán khó là phải khẳng định mô hình phát triển đô thị thủ đô dựa trên 4 trụ cột Chính trị - Văn hóa, lịch sử - Kinh tế - Tự hào dân tộc; Bài toán khó là phải cụ thể hóa được các khái niệm trừu tượng trở thành các giải pháp cụ thể, đảm bảo sự thành công. Các giải pháp này phải trở thành những nguyên lý chỉ đạo, duy trì sự thống nhất, có chủ kiến và chủ động.

Trong các bài toán khó, bài toán Mô hình phát triển là khó nhất; Người bình thường không làm được!

Hà Nội không có thế mạnh quốc gia làm chỗ dựa như Washington D.C; Không tìm được những nhà kiến trúc sư đại tài quy hoạch, thiết kế thành phố để sau 27 năm đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới như Brasilia; Không năng động như New York; Không tinh tế như Tokyo; Không bí ẩn như London; Không mộ đạo như Delhi.

Nhưng Hà Nội lại có sự thiêng liêng của Delhi; Thấm đẫm lịch sử như London; Sâu sắc như Tokyo; Khả năng ứng biến linh hoạt như New York; Và đông dân như tất cả!

Cái khó nhất hiện nay của Quy hoạch Hà Nội là làm sao có được những nhà lãnh đạo có tầm nhìn, đức khoan dung như Tổng thống George Washington. Tổng thống Juscelino Kubitschek để có thể chọn được những kiến trúc sư lừng danh thế giới như Pierre Charles L'Enfant; Lucio Costa và Oscar Niemeyer tham gia quy hoạch.

Quy hoạch Hà Nội cần những nhà tổ chức biết tôn trọng ý nguyện của dân chúng, biết tập hợp những hào kiệt Thăng Long đến từ mọi miền đất nước.

Được như vậy, khó sẽ thành dễ.

Người xưa nói rằng: "Thiên hạ bĩ, quân tử ẩn".

Người xưa cũng nói: "Càn Khôn bĩ rồi lại thái, Nhật Nguyệt hối rồi lại minh".

Ức Trai (Nguyễn Trãi) khẳng định (Như nước Đại Việt ta từ trước): "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau; Song hào kiệt thời nào cũng có".

Chúng tôi nghe, nhớ, và hy vọng.

nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-06-11-cai-kho-cua-do-thi-la-khong-nhin-thay-can-benh-dan-trai-