Hiển thị các bài đăng có nhãn diệnmạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn diệnmạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

100612- Cái khó của đô thị là không nhìn thấy căn bệnh dàn trải?

Không nhận diện được Tài nguyên Di sản đặc trưng của thủ đô. Không đề xuất được mô hình phát triển. Với các ý tưởng mơ hồ, tự phát. Cùng với việc đề cao quá mức các đô thị quần cư, Quy hoạch Hà Nội đã biến thành một dự án bất động sản khổng lồ.

Tài nguyên di sản - Gánh nặng hình thức hay Động lực phát triển?

Trên thế giới hiện nay còn khoảng 29 thủ đô các quốc gia và vùng lãnh thổ có lịch sử 1000 năm tuổi; Bao gồm: Tunis (Tuy ni di); Tashkent (Uzbekistan); Jerusalem (Israel); Baghdad (Iraq); Algiers (Algieria); Vienna (Áo); Vientiane (Lào); Rome (Italia); Prague (CH Séc); Paris (Pháp); Nicosia (Đảo Síp); Lisbon (Bồ Đào Nha); Kiev (U-crai-na); Dublin (Ai-len); Bắc kinh (Trung Quốc); Budapest (Hung-ga-ri); Brussels (Bỉ); Bratislava (Slo-va-kia); Athens (Hy lạp); Yangon (Mi-an-ma); Cairo (Ai Cập); Beirut (Li băng); Damascus (Si-ria); Delhi (Ấn Độ); London (Anh); Sofia (Bun-ga-ri); Madrid (Tây Ban Nha); Seoul (Hàn Quốc); Hà Nội (Việt Nam).

Trong bảng xếp hạng 100 các thành phố có GDP cao nhất thế giới có 49 thủ đô; 15/ 29 thành phố 1000 năm tuổi thuộc nhóm này; 3 thành phố thuộc top 10; 10 thành phố thuộc top 50.

Sự thành công của các thành phố này là đáng tự hào. Điều này nói lên rằng Tài nguyên di sản (đô thị và nông thôn) đóng vai trò rất quan trọng.

Kinh tế di sản mang lại hiệu quả cao, vốn đầu tư thấp, song khó làm. Cũng như các ngành kinh tế giá trị gia tăng khác, rất cần nguồn nhân lực trình độ cao và sự đồng bộ của hệ thống. Tại Anh, hàng năm ngành kinh tế này cho một khoản thu nhập trên dưới 60 tỷ bảng (cao hơn GDP Việt Nam).

Tuy nhiên, phần đông (đặc biệt những nước chậm phát triển hoặc mới phát triển như nước ta) lại coi như một gánh nặng, không mang lại lợi ích cho đời sống hiện tại. Nhận thức này không chỉ nằm trong nhận thức trong xã hội mà còn ở trong suy nghĩ của những người có thẩm quyền; ở ngay chính những người làm quy hoạch. Vì vậy, việc bảo tồn di sản phần lớn chỉ mang tính hình thức (làm cho có).

Vậy Tài nguyên di sản của Hà Nội là gì?  Câu hỏi tưởng chừng rất dễ, song trả lời cho đầy đủ thật không đơn giản.

Lý do, nhận diện di sản là một quá trình, cái hôm nay ta đang coi rẻ, ngày mai đã trở thành vốn quý. Ai cũng có thể nói về di sản kiến trúc, văn hóa, lịch sử, khảo cổ, nghệ thuật, di sản thiên nhiên (đã được xếp hạng) theo số đông, cái đã được thừa nhận. Song ứng xử với di sản thường không nhất quán.

Hơn thế, những cái có giá trị thường khó nắm bắt. Bảo tồn những cái sờ nắm được cũng đã khó, bảo tồn những di sản không nhìn thấy được khó hơn nhiều. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến các vấn đề Tài nguyên di sản cốt lõi của thủ đô Hà Nội (xin không nhắc lại những di sản phổ thông mà ai cũng biết) mà quy hoạch chung thủ đô Hà Nội không thể bỏ qua. Ngược lại, phải kế thừa và coi như Nền tảng, động lực phát triển trong nhiều thế hệ.

Vậy, Tài nguyên di sản Thăng Long - Hà Nội đặc trưng là gì?

Trước khi trả lời câu hỏi này cần trả lời được những câu hỏi khác:

Tại sao trong lịch sử dựng nước, giữ nước, triều đại nào chọn Thăng Long Hà Nội (Ba Đình) làm thủ đô đều thịnh trị lâu bền?

Tại sao các bậc quân vương muốn cai trị đất nước bền vững đều phải tìm cách thuyết phục "sĩ phu Bắc hà" ủng hộ (mà sĩ phu Bắc hà lại chính là nhân tài quốc gia tụ hội về Thăng Long)?

Tại sao khi đất nước lâm nguy, chiến tranh kéo dài, lòng dân (cả nước) luôn hướng về Hà Nội?

Câu trả lời: Thăng Long - Hà Nội có di sản không phải thủ đô nào cũng có được đó là Di sản Niềm tin. Mất Hà Nội tức là mất nước, rời bỏ Hà Nội tức mất Niềm tin, hy vọng.

Tại sao trong 100 thành phố có GDP lớn nhất thế giới có tới 49 thành phố là thủ đô. Cả 3 trung tâm kinh tế, tài chính thế giới đều đang là thủ đô (Tokyo >600 năm), (London >1000 năm) hoặc đã từng là thủ đô (New York >200 năm). Các trung tâm tài chính đều đặt trong khu vực trung tâm, các khu vực đô thị lâu đời?

Tại sao các thành phố ban đầu chỉ với chức năng chính trị và văn hóa sau đó lại thành công về kinh tế như Washinton, D.C - hạng 11/100; Brasillia - hạng 56/100?

Tại sao các thành phố đông đúc, đắt đỏ như Tokyo, New York, London, Seoul, Delhi mà dân số vẫn không ngừng tăng. Các quốc gia này lại coi sự đô hội này như động lực phát triển?

Tai sao các thành phố thủ đô bao giờ cũng là trung tâm chính trị (chính phủ, nhà nước), văn hóa, lịch sử?

Câu trả lời: Đây là Di sản Chức năng - di sản đặc trưng của thủ đô; rời bỏ các chức năng này, thủ đô chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa; không thể tách rời kinh tế, chính trị và văn hóa, các chức năng này luôn hàm chứa trở thành nhất thể thủ đô, chỉ khác ở thứ tự ưu tiên mà thôi.

Tai sao văn hóa, đời sống Thăng Long - Hà Nội luôn được coi là chuẩn mực về thanh lịch, văn minh, văn hiến, đều được các địa phương và khách quốc tế lấy làm cơ sở văn hóa Việt Nam.

Tại sao giá đất, giá nhà Hà Nội, của ngon vật lạ từ các địa phương mang về gắn nhãn Hà Nội luôn đắt hơn nơi khác?

Câu trả lời: không chỉ là di sản tên gọi (hay địa danh), đây (tạm gọi tên) là Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống; tất cả các thủ đô (lâu dời) đều có dạng di sản này!

Hà Nội đã mở rộng, và thu hẹp nhiều lần, văn hóa mỗi vùng đất không thể sau một quyết định hành chính để trở thành vùng văn hóa khác.

Trong khi Hà Nội cũng giống như các thành phố thủ đô khác trên thế giới với đặc trưng mở, giao lưu, dung nạp thì Hà Tây (điển hình là vùng Ba Vì, Sơn Tây) văn hóa hoàn khác biệt.

Với những đặc trưng văn hóa vùng, Xứ Đoài luôn khép kín. Di sản đặc trưng là các công xã nông thôn có đời sống hướng nội, coi trọng truyền thống hơn sự thay đổi. Các hoạt động tâm linh được coi trọng hơn đời sống thực tế. Vì vậy, mới còn tồn tại Làng cổ Đường Lâm, Chùa Mía, Chùa Thầy, Chùa Tây phương, Đền Và, Đình Chu Quyến. Gần sát Hà Nội, người Sơn Tây vẫn duy trì phương ngữ "nói không dấu". Song, không mặc cảm.

Chúng tôi tin, người Hà Tây tự hào là người thủ đô chứ không tự hào là người Hà Nội.

Cũng giống như các vùng nông thôn khác trong tam giác đồng bằng Bắc bộ. Chính sự kiêu hãnh này đã giúp cho Việt Nam bảo vệ được bản sắc văn hóa của dân tộc dù đã bao lần bị ngoại xâm đô hộ.

Vậy di sản này gọi tên là gì?

Câu trả lời: đây là Di sản Công xã nông thôn Việt Nam; trước kia Hà Nội đã từng có di sản này tại các làng nghề ven đô (Ngọc Hà, Đại Yên, Vạn Phúc, Nhật Tân, Thọ Xương, Ngũ Xã v.v). Rất tiếc, giờ không còn nữa; Di sản này luôn gắn với đất lúa và vùng canh tác nông nghiệp.

Với việc đề xuất dời đô lên Ba Vì vào năm 2030 ~ 2050 đồ án đã đánh mất đi Di sản Niềm tin (rất dễ hiểu vì sao ý tưởng này không nhận được sự ủng hộ trong công luận và nhân dân).

Việc kết nối, phân bổ các đô thị dàn trải đã làm lẫn, mất đi sự khác biệt về không gian, xóa nhòa địa danh, văn hóa vùng và cực điểm là ý tưởng đề xuất trục Thăng Long đã cùng lúc tạo nên hiệu ứng kép:

Một mặt, ý tưởng quy hoạch này làm mất đi các tính chất đặc thù của các vùng đất, làm mất đi di sản được gọi Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống. Mà với di sản này phải hiếm mới quý (Paris, trải qua rất nhiều thế kỷ không mở rộng không gian đô thị thủ đô mới tạo ra giá trị gia tăng đáng kinh ngạc như đã nêu). "Tương phản tương sinh, tương đồng tương khắc" những gì khác nhau sẽ tôn lên, những gì giống nhau sẽ triệt tiêu lẫn nhau.

Mặt khác, với trục Thăng Long (khổng lồ) là 1 đề xuất theo phong cách Duy lý, thịnh hành vào thế kỷ 17 - 18 (Rene Descartes 1596-1690), không phù hợp với văn hóa Việt Nam vốn chuộng sự tinh tế và khiêm nhường; cùng lúc ứng sử thô bạo với di sản đô thị, nông thôn cả văn hóa Tràng An lẫn Xứ Đoài chứ không phải kết nối như ai đó đã nói: "Trục này vừa để phát triển kinh tế - xã hội, vừa để phát triển giao thông, vừa kết nối văn hóa giữa các vùng xứ Đoài với Thăng Long" ; nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Chua-quyet-dia-diem-xay-Trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-905539/ Thực chất đây chỉ là ngụy biện, vì xưa nay không ai có thể kết nối văn hóa bằng một trục đường thẳng cứng và thô bạo như vậy cả, trên toàn thế giới.

Trục đường này chiếm đất lúa tới (350m*30km) 1.050ha không thể nói như một cách để bảo vệ Di sản (bối cảnh) Công xã nông thôn Việt Nam được nữa.

Ngoài ra, cũng cần phải nói thêm, bảo tồn di sản cần nhất sự đồng bộ, vì vậy, sẽ là khiếm khuyết nếu không nhắc tới việc khôi phục các dòng chảy vốn được coi là đặc trưng của Hà Nội: cần kết nối Sông Tô lịch với Hồ Tây (không nên để thế hệ sau phải làm như Hàn Quốc khôi phục con suối Cheonggyecheon ở Seoul);

Với việc không có ý tưởng phát triển khu vực nội đô (tương tự như các thành phố giàu truyền thống khác đã phân tích ở trên) thành các trung tâm kinh tế (tài chính), thương mại, đồ án đã đánh mất đi Di sản Chức năng vốn đã, đang và sẽ là các động lực, năng lực cạnh tranh có chiều sâu cho tất cả các trung tâm kinh tế thế giới và biến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, du lịch Châu Á - Thái Bình Dương của thủ đô Hà Nội trở thành vô vọng.

Không kế thừa lợi thế có sẵn, thay mới đổi cũ không có lý do, đây chính là bẫy thu nhập trung bình của các nước Đông Nam Á mà qua cách nghĩ, chúng ta đang sa vào, với đồ án này.

Bài toán dễ là đặt ra các vấn đề bảo vệ di sản (kiến trúc, di sản văn hóa, lịch sử, vật thể và phi vật thể bằng lời) chỉ mang tính thủ tục. Đề xuất kế hoạch làm mới các Trung tâm Chính trị, Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế, làm nghèo đi Trung tâm Văn hóa, lịch sử, tập trung quy hoạch các đô thị quần cư  như các nội dung đã có trong đồ án. Điều này cũng có nghĩa khả năng kế thừa di sản đô thị chỉ là tối thiểu và hình thức.

Bài toán khó là trong khuôn khổ quy hoạch chung, cần có cái nhìn chiến lược ở quy mô bảo tồn cấu trúc Tài nguyên di sản (đô thị và nông thôn). Trong đó Di sản Niềm tin, Di sản Chức năng, Di sản Đẳng cấp (thủ đô) của hệ thống, Di sản Công xã nông thôn sẽ trở thành nền tảng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản khác.

Bài toán khó là dành quỹ đất xung quanh Hồ Tây, Ba Đình cho các chức năng chính của thủ đô: Trung tâm Chính trị - Văn hóa - Lịch sử quốc gia; Khu vực Hồ Gươm, Phố cổ cho các chức năng Trung tâm Hành chính - Văn hóa - Lịch sử thành phố Hà Nội; Khu vực phố cũ cho các chức năng Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế.

Bài toán khó là để Tài nguyên Di sản trở thành Động lực phát triển thực sự. Chỉ có như vậy mới khai thác được ưu thế cạnh tranh, biến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, du lịch Châu Á - Thái Bình Dương của thủ đô Hà Nội trở thành hiện thực.

Mô hình phát triển của đô thị thủ đô - Mơ hồ, tự phát hay Chủ kiến, chủ động?

Trên thế giới, các thành phố thủ đô không có một mô hình duy nhất để phát triển. Tuy nhiên, sự thành công lại có chung một đặc điểm: cần phải kiên định với các mục tiêu, tầm nhìn đã đề xuất. Điều khác biệt ở chỗ là phải hiểu biết thành phố muốn gì, tới đâu; cơ sở thực tiễn cho mục tiêu là gì, dung lượng rủi ro và khả năng hiện thực hóa theo giới hạn thời gian.

Một thành phố, nếu để tự nhiên sẽ không cần mô hình phát triển định trước. Sự phát triển của thành phố sẽ là tốt khi chuyển dịch chậm rãi. Tại các thành phố này, tính ngẫu nhiên luôn chiếm ưu thế; đặc biệt đối với các thành phố có bề dày lịch sử. Việc định ra một mô hình phát triển cụ thể, thậm chí phản tác dụng.

Cũng có không ít các thành phố lại cho thấy điều ngược lại: cùng với sự hình thành 1 cách mau lẹ, các thành phố mới nổi rất cần có những định hướng từ trước thông qua các mô hình phát triển (phải được nghiên cứu kỹ lưỡng và thấu đáo).

Sự mơ hồ, tự phát, thiếu chủ kiến, chủ động sẽ đẫn đến sự bất công và hỗn loạn.

Trong khi, ở nơi này một số người không có nơi trú ngụ, không mảnh đất cắm dùi; ở nơi kia có những căn biệt thự bỏ không, để đất đai hoang hóa.

Tiếc thay, đây lại là sự thực của Hà Nội; và sự thực sẽ không ngừng ở đây khi mà trong chính bản quy hoạch đang đệ trình. Mô hình phát triển hoàn toàn vắng mặt dẫn dến một loạt các ý tưởng mơ hồ, thiếu luận cứ;

Cơ hội đang dần biến mất, trong khi hiểm họa xã hội lại càng ngày càng rõ nét, nếu thực thi theo ý tưởng của đồ án này. Có những sự tùy tiện, tùy hứng. Trong khi đó, tại các quốc gia phát triển khác, người ta giải quyết rất tốt vấn đề này, rất thành công về đô thị trong cả nghiên cứu quy hoạch, thực thi, quản lý phát triển.

Thành phố thủ đô có thuận lợi hơn các thành phố khác vì được thừa hưởng vị thế quốc gia. Ngược lại, hình ảnh, sức sống của thành phố này cũng ảnh hưởng trở lại tới vị thế của đất nước.

Phương pháp quy hoạch theo mục tiêu có thể xuất phát từ những kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia khác. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn (thuộc nhóm G20).

Các số liệu, Biểu đồ (1) và Biểu đồ (2) cho thấy điều gì?

(1) 15/29 thành phố thủ đô 1000 năm tuổi nằm trong top100 các thành phố có GDP lớn nhất Hành tinh. Điều này khẳng định cơ hội phát triển đối với các thủ đô giàu truyền thống rất thuận lợi. Kinh tế di sản là một ưu thế cốt lõi của các thành phố này.

(2)  16/18 nước nhóm kinh tế lớn có thủ đô nằm trong top 100  thành phố là trung tâm kinh tế thế giới. Điều này thể hiện sự hưng thịnh của một quốc gia luôn gắn kết với sự phát triển, đẳng cấp của thành phố thủ đô.

(3) 4/18 thành phố thủ đô có mô hình chuyên biệt; trong đó Washington, D.C (hạng 11/100) và Brasilia (hạng 56/100) đã thành công khi chuyển đổi từ một đô thị hành chính sang mô hình phức hợp (văn hóa, lịch sử và du lịch) xuất phát từ thành công của quy hoạch đô thị, kiến trúc và hệ thống quản trị tốt. Ottawa và Canberra khả năng chuyển đổi mô hình diễn ra chậm hơn, vì vậy, sự thành công về kinh tế chưa đạt tới đẳng cấp của hai thành phố nói trên. Mô hình đô thị quyền lực nhà nước kết hợp văn hóa - lịch sử cũng có khả năng mang lại thịnh vượng cho quốc gia bằng phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.

(4) 14/18 thành phố có mô hình phức hợp, dựa trên nền tảng đô thị lịch sử, địa điểm truyền thống; Duy trì mật độ dân cư đô thị cao, có quy mô dân số thuộc nhóm lớn. Hiện nay, không còn thành phố nào (trong nhóm này) phát triển dựa vào hạt nhân công nghiệp. Các đô thị thủ đô (và các thành phố đã từng là thủ đô) đều phát triển theo mô hình lấy độ lớn thị trường thành phố, du lịch, dịch vụ và đặc biệt ngành tài chính làm hạt nhân phát triển.

Tiếp theo, trong 61 thành phố đông dân nhất thế giới; có 20 thành phố: Karachi, Pakistan (3/61); Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ (5/61); Kinshasa, Congo (17/61); Lima, Peru (18/61); Bogotá, Colombia (20/61); Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam (21/61); Bangkok, Thái lan (22/61); Lahore, Colombia (26/61); Thiên Tân, Trung Quốc (29/61); Santiago, Chile (33/61); Trùng Khánh, Trung Quốc (35/61); Alexandria, Ai Cập (40/61); Shenyang, Trung Quốc (41/61); Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ (45/61); Johannesburg, Nam Phi (46/61); Abidjan, Côte d'Ivoire (48/61); Cape Town, Nam Phi (51/61); Durban, Nam Phi (52/61); Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên (55/51); Jeddah, Ả Rập Saudi (61/61); Trong đó: Thành phố có diện tích đô thị lớn nhất (Kinshasa): 9.965km2; nhỏ nhất (Jeddah): 1.230; Thành phố có số dân đông nhất (Karachi): 12.991.000 (hạng 3); ít nhất (Jeddah): 3.012.000 (hạng 61).

Các thành phố này đều có chung đặc điểm:

(1) Duy trì mật độ dân cư ở mức thấp <6.500/km2;

(2) 9/20 là thành phố thủ đô; không thành phố thủ đô nào (thuộc nhóm này) nằm trong top 50/100 của Danh mục các thành phố thủ đô là trung tâm kinh tế (GDP năm 2008);

(3) Không có thành phố nào thuộc nhóm thủ đô 1000 năm tuổi;

Như vậy, mật độ thấp và quy mô rộng lớn không phải là điều kiện cốt lõi cho sự thành công và trình độ phát triển, sức hấp dẫn của đô thị thủ đô. Ngược lại, sự mở rộng thái quá sẽ làm suy giảm các nguồn lực mà các quốc gia nghèo thường mắc phải.

Mô hình thành phố phát triển theo chiều rộng, không tạo ra việc làm tại chỗ và có cấu trúc càng ngày mở rộng sẽ là nguyên nhân chính gây tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường (Bangkok và Thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ).

Dễ dãi trong quản lý đất đai dẫn đến không gian đô thị sẽ không ngừng giãn ra. Điều này, đối với xã hội giống như cho uống thuốc độc - càng uống càng khát!

Khó khăn trong quản lý đất đai sẽ tạo ra những thách thức, kích thích trí sáng tạo của xã hội. Đây mới là cơ hội giúp chúng ta thoát khỏi lời nguyền tài nguyên.

Vậy mô hình phát triển của Hà Nội sẽ như thế nào?

Trước hết, phải khẳng định không có mô hình lý tưởng hay chuyên biệt (bền vững) như một số người nghĩ; Bởi khi thành công, các đô thị này đều có khuynh hướng phức hợp hóa chức năng. Hiệu quả sử dụng tài nguyên của hai thành phố: Washington D.C. với diện tích 177km2; GDP 375 tỷ USD; xếp hạng 11/100. Hiệu suất GDP: 2,119 tỷ USD/km2 và  Brasilia GDP 110 tỷ USD, xếp hạng 56/100. Cũng phải nói thêm Washington D.C. có lợi thế không thể so sánh do vị thế quốc gia của Hoa Kỳ. Brasilia có lợi thế là thủ đô của một nước đông dân thứ 5 thế giới và thành phố đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1987 do thành công của sáng tạo quy hoạch và kiến trúc; Như vậy, hai thành phố này từ những đô thị chuyên biệt (hành chính - quyền lực nhà nước) đã trở thành những đô thị phức hợp bao gồm kinh tế du lịch và dịch vụ.

Trong Danh mục các thành phố là trung tâm kinh tế (GDP năm 2008), Cùng với Thành phố New York và London, Tokyo có nền kinh tế đô thị lớn nhất trên thế giới; cả 3 thành phố này đều đang là thủ đô (hoặc đã từng là thủ đô); 6 thành phố thủ đô nằm trong top10; 10/ top 20; 23/ top50; 45/ top 100. Các thành phố này đều nằm trong số những thành phố có số dân đông và mật độ dân dư đô thị cao nhất.

Chúng tôi xin nhắc lại xét về khía cạnh kinh tế, đô thị thủ đô luôn chiếm được sự thuận lợi tự nhiên về thị trường cũng như đẳng cấp (phân khúc trên) của hàng hóa.

Không phải ngẫu nhiên mà thành công!

Mô hình phát triển đô thị phải xác định được rõ các hợp phần: phát triển nguồn lực (tài nguyên, tài chính, nhân lực, thị trường) phát triển chức năng; phát triển kinh tế; phát triển dân cư; phát triển hạ tầng xã hội; phát triển tiện nghi đô thị; phát triển không gian; phát triển hạ tầng kỹ thuật, làm tiền đề xác định giải pháp đô thị hóa; xác định quy mô, cấu trúc đô thị phù hợp với mô hình phát triển đô thị.

Phải xác định được hạt nhân phát triển có khả năng cạnh tranh thực sự về lượng và chất với các đô thị khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Trong đó nguồn lực con người với dân số đông, trẻ, tập trung sẽ trở thành sức mạnh chính (giai đoạn đầu) của đô thị; (Các nước Châu Á vốn chiếm ưu thế về thị trường đông đúc - đây cũng là bảo đảm cần thiết cho sự thịnh vượng của các thành phố như Tokyo, Thượng Hải, Seoul, Delhi, Mumbai).

Nghiên cứu, đề xuất và lựa chọn mô hình phát triển sẽ là sản phẩm có giá trị lớn nhất về mặt trí tuệ; thiếu nội dung này đồ án quy hoạch sẽ trở nên tầm thường. Tiếc thay, đây lại là sự thật.

Không đề xuất được mô hình phát triển; Với các ý tưởng mơ hồ, tự phát; Cùng với việc đề cao quá mức các đô thị quần cư, Quy hoạch Hà Nội đã biến thành một dự án bất động sản khổng lồ.

Đồ án mới chỉ đề xuất mô hình phát triển không gian; và dùng công cụ này giải quyết tất cả; Đây là một sai lầm có tính hệ thống, một bài toán ngược!

Một đồ án thực hiện một hệ thống các đô thị của một thủ đô ngàn năm tuổi, diện tích >900km2; dân số tới >9 triệu người mà không có mô hình phát triển làm cơ sở tư duy và kiểm soát hệ thống đã khiến chúng tôi kinh ngạc.

Xét trên phương diện này; đồ án Quy hoạch Hà Nội cũng giống như các đô thị của Việt Nam đã hình thành theo cùng một cách; Người ta vẫn theo tư duy định trước những đơn vị ở (dù là một thành phố cũng như đơn vị ở phóng to); Tất cả các nội dung của thành phố đều đã đóng gói sẵn sàng, được sử dụng đi, sử dụng lại cho nhiều thành phố khác nhau.

Trong thực tiễn thế giới (ưu việt), sự phát triển thành phố thường theo hướng ngược lại: Với một quỹ đất định trước cần suy nghĩ sao cho việc năng cao hiệu suất sử dụng đất ngày càng được cải thiện; Mô hình đô thị phải giải quyết được sự giảm thiểu các chuyển động theo phương ngang vốn là biểu hiện của tiện nghi đô thị thấp kém và là nguyên nhân của việc tắc đường hiện nay.

Một đô thị tốt cần phải giải quyết các chức năng như một động lực phát triển; Đồ án quy hoạch chung Hà Nội đề xuất một kế hoạch giãn dân ra khỏi khu vực nội đô (400.000). Kế hoạch này thể hiện một tư duy sai lầm đã có trước. Bởi, bất chấp mọi nỗ lực chống lại sức hút đô thị sự gia tăng dân số trong các đô thị dù có muốn hay không (việc này) cũng không thay đổi được điều gì.

Hơn thế, về mặt nhận thức, tồn tại suy nghĩ này là không thể hiểu được đối với đô thị học hiện đại; Bởi nó trái ngược hoàn toàn với mục tiêu phát triển. Cách nghĩ này có thể biến những đô thi phồn hoa trở thành hoang phế. Chính cách nghĩ này đã biến Thành phố Hồ Chí Minh đi từ Hòn Ngọc Viễn Đông tới đô thị của ngập lụt, ô nhiễm, rác thải, khói bụi và tắc đường.

Đô thị có rất nhiều tham số tác động; việc đề xuất các mô hình phát triển nhằm giúp cho các mục tiêu tiệm cận dần với thực tiễn; đô thị luôn gắn liền với một điều kiện định trước: đó là một quỹ đất giới hạn có nhiệm vụ phải đáp ứng sự biến động không ngừng của dân số đô thị; nó phải gắn kết, giải quyết xung đột  giữa mong mong muốn đáp ứng thật nhiều, ngày càng nhiều hơn các nhu cầu và sự không ngừng gia tăng các phát kiến công nghệ; một mặt công nghệ giúp cho nâng cao hiệu suất đô thị; mặt khác, sự lệ thuộc vào các kế hoạch định sẵn sẽ làm cho đô thị trở nên kém linh hoạt.

Khả năng thích ứng với sự biến động của xã hội sẽ xác định năng lực dung nạp hay khước từ của đô thị. Đây chính là đẳng cấp!

Giải pháp tốt là phải đưa ra những mô hình phát triển tối ưu so với điều kiện hình thành của nó. Tức thay vì tìm mọi cách để giảm thiểu sự gia tăng cơ học làn sóng di cư vào đô thị; cần chủ động hơn trong việc điều tiết theo nguyên tắc thị trường và nâng cao năng lực dung nạp của đô thị kèm theo giá phải trả của tiện nghi; Giá cả thị trường mới là nhân tố điều tiết đô thị chứ không phải giải pháp hành chính.

Người ta thường nhìn thấy những mặt trái của đô thị khi gặp phải những vấn nạn hiện nay của đô thị Việt Nam đã dẫn đến tư duy khôi hài là quy hoạch dường như chỉ có một mục tiêu là giãn dân và chống tắc đường. Người ta chưa một lần nhận thấy căn bệnh tư duy quy hoạch dàn trải mới chính là nguyên nhân gây ra các khó khăn của đô thị hiện nay.

Mô hình đô thị đa trung tâm cũng đã bị hiểu sai nghiêm trọng, khi người ta đề xuất có tới 3 trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia (cùng lúc hay cách 20, 40 năm cũng không gì khác nhau) bởi không phải chức năng nào cũng có thể phân bố rộng khắp. Đa trung tâm chỉ đúng với các dịch vụ thông thường và nguồn việc làm phổ thông.

Dịch vụ công chỉ có ở cấp cơ sở, sẽ không tồn tại dịch vụ công ở cấp Chính phủ, trước kia, bây giờ và sau này cũng như vậy. Càng kéo giãn thì càng xuất hiện dao động giao thông kiểu con lắc. Chính những dao động này khiến cho lưu lượng các phương tiện giao thông luôn luôn quá tải so với dự tính, chính chúng tạo ra sự hỗn loạn giao thông.

Mô hình phát triển không gian chỉ là hệ quả của mô hình phát triển; được khống chế bởi các giới hạn tài nguyên, năng lực, tiện nghi đô thị.

Xin nhắc lại: Sức hút của đô thị nằm ở chỗ đô hội. Sức mạnh của đô thị là tạo ra cỗ máy hoàn hảo (trong đó có khả năng phục hồi sức khỏe cả tinh thần và thể chất), dung nạp được nhiều người song vẫn không tạo ra sự cố về môi trường tự nhiên và xã hội.

Đô thị thủ đô một quốc gia phải là nơi quần tụ của các cư dân của đất nước đó, đến và đi, thành phố không có quyền khước từ.

Đô thị "thủ đô" của thế giới (Roma; New York; London; Paris; Tokyo; Washington D.C và các thành phố khác) cũng như vậy, không bao giờ khước từ nhân loại đến từ bất kỳ phương trời nào; Đây chính là sức mạnh cốt lõi, là động lực phát triển không riêng cho thành phố mà còn cho cả quốc gia và thế giới.

Nhận thức được điều này, khi kế hoạch di chuyển thủ đô của Hàn Quốc được chính phủ đệ trình, Lee Myung-bak (Tổng thống Hàn Quốc - Thị trưởng Seoul tại thời điểm đó, một chính trị gia và là doanh nhân tỷ phú), đã chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch này. Ông nói với báo chí rằng di chuyển vốn sẽ làm tổn hại lớn cho nền kinh tế Hàn Quốc và làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nó.

Sau này, Tổng thống Lee Myung-bak nói rằng đó là một việc "đáng xấu hổ" - "shameful"; nguồn: http://www.citymayors.com/environment/korea_newcapital.html; http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2010/01/116_58821.html).

Đây chính là bài học về Tầm nhìn tri thức!

Ngược lại, trong đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; Ý tưởng lặp đi lặp lại và có vẻ như chủ đạo là giãn dân, mở rộng tràn lan không gian đô thị; Ấu trĩ thay!

Trong khi đồ án khẳng định mục tiêu của quy hoạch là làm sao nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; Câu hỏi được đặt ra ở đây là Hà Nội sẽ cạnh tranh bằng gì?

Bài toán dễ là cứ triển khai đồ án quy hoạch theo thói quen, mơ hồ, tự phát như hiện nay, sử dụng vốn vay và (bán rẻ) quỹ đất ("Mặt mạnh của Hà Nội chính là quỹ đất" nguồn: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201005/Khong-de-tien-sot-dat-Ha-Noi-vao-tui-tu-nhan-913311/ ); và không có gì khác về mô hình phát triển?

Về vấn đề này, chúng tôi cũng nghĩ như Tổng thống Lee Myung-bak rằng đó là một việc "đáng xấu hổ" - "shameful".

Bài toán khó là phải khẳng định mô hình phát triển đô thị thủ đô dựa trên 4 trụ cột Chính trị - Văn hóa, lịch sử - Kinh tế - Tự hào dân tộc; Bài toán khó là phải cụ thể hóa được các khái niệm trừu tượng trở thành các giải pháp cụ thể, đảm bảo sự thành công. Các giải pháp này phải trở thành những nguyên lý chỉ đạo, duy trì sự thống nhất, có chủ kiến và chủ động.

Trong các bài toán khó, bài toán Mô hình phát triển là khó nhất; Người bình thường không làm được!

Hà Nội không có thế mạnh quốc gia làm chỗ dựa như Washington D.C; Không tìm được những nhà kiến trúc sư đại tài quy hoạch, thiết kế thành phố để sau 27 năm đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới như Brasilia; Không năng động như New York; Không tinh tế như Tokyo; Không bí ẩn như London; Không mộ đạo như Delhi.

Nhưng Hà Nội lại có sự thiêng liêng của Delhi; Thấm đẫm lịch sử như London; Sâu sắc như Tokyo; Khả năng ứng biến linh hoạt như New York; Và đông dân như tất cả!

Cái khó nhất hiện nay của Quy hoạch Hà Nội là làm sao có được những nhà lãnh đạo có tầm nhìn, đức khoan dung như Tổng thống George Washington. Tổng thống Juscelino Kubitschek để có thể chọn được những kiến trúc sư lừng danh thế giới như Pierre Charles L'Enfant; Lucio Costa và Oscar Niemeyer tham gia quy hoạch.

Quy hoạch Hà Nội cần những nhà tổ chức biết tôn trọng ý nguyện của dân chúng, biết tập hợp những hào kiệt Thăng Long đến từ mọi miền đất nước.

Được như vậy, khó sẽ thành dễ.

Người xưa nói rằng: "Thiên hạ bĩ, quân tử ẩn".

Người xưa cũng nói: "Càn Khôn bĩ rồi lại thái, Nhật Nguyệt hối rồi lại minh".

Ức Trai (Nguyễn Trãi) khẳng định (Như nước Đại Việt ta từ trước): "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau; Song hào kiệt thời nào cũng có".

Chúng tôi nghe, nhớ, và hy vọng.

nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-06-11-cai-kho-cua-do-thi-la-khong-nhin-thay-can-benh-dan-trai-

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

100604- “Trung tâm hành chính tại Ba Vì là… khó chấp nhận!”

“Chẳng nhẽ, ông đứng đầu ngồi ở Ba Đình, ông thực thi lên Ba Vì! Chúng ta đã chọn trung tâm hành chính ở khu Tây Hồ Tây nhưng giờ khu đó dành cho các dự án của nước ngoài còn chúng ta lên Ba Vì là sao?”, đại biểu Trần Du Lịch bày tỏ.
 >> “Trung tâm hành chính quốc gia sẽ về chân núi Ba Vì”
Không nằm ngoài dự đoán, trung tâm hành chính quốc gia và trục Thăng Long là những vấn đề nóng nhất trong buổi thảo luận tại tổ của các đại biểu Quốc hội về đồ án quy hoạch chung Thủ đô, chiều 3/6.
 
Không có trung tâm hành chính phi chính trị
 
Đại biểu Phạm Thị Loan “phân vân”, chuyển Trung tâm hành chính về Ba Vì, người dân sẽ đi làm như thế nào, chẵng nhẽ lại… đi xe máy. Giải pháp tàu điện ngầm không làm đại biểu này tin tưởng sớm thành hiện thực, bởi đơn cử như dự án Đại học quốc gia được tập trung thực hiện hơn chục năm qua, nhưng đến nay vẫn chưa ra hình hài.
 
Cùng về vấn đề này, đại biểu Trần Du Lịch thẳng thắn cho rằng, việc đặt Trung tâm hành chính tại Ba Vì là… khó chấp nhận. “Chẳng nhẽ, ông đứng đầu ngồi ở Ba Đình, ông thực thi lên Ba Vì! Chúng ta đã chọn khu Tây Hồ Tây nhưng bây giờ khu đó dành cho các dự án của nước ngoài còn chúng ta lên Ba Vì là sao?”, ông Lịch phân tích.
 
Với đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, những người ủng hộ việc dời trung tâm hành chính có thể nói xu hướng hiện đại là phân biệt hai trung tâm hành chính và chính trị, nhưng theo ông ở Việt Nam không có trung tâm hành chính phi chính trị.
 
“Tôi không tin là nên tách riêng, trừ phi có người nghĩ đến năm 2050 các trung tâm hiện tại trở thành di sản văn hoá”, ông Thuyết nói. Cũng theo ông, khi tách 2 trung tâm, liên hệ công việc sẽ như thế nào, phải chăng lúc nào cũng chỉ liên hệ qua mạng và giao ban truyền hình trực tuyến?
 
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cũng băn khoăn về trung tâm hành chính quốc gia (Ảnh: Việt Hưng)
 
Nắm rõ tình hình khối cơ quan Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm bày tỏ mối lo vì trụ sở các bộ ngành đều đã “định cư”. Trụ sở Bộ Tài chính đã xây bề thế, to lớn trong nội thành. Trụ sở Bộ Ngoại giao đang xây dựng là công trình thế kỷ, xây cho cả 100 năm. Các bộ khác cũng đã nhắm không gian quy hoạch riêng. Đặt vấn đề sau 30 năm lại dồn hết về chân núi Ba Vì, ông Khiêm cho rằng “khó nghĩ”.
 
Chuyển sang một điểm mới khác của đồ án là trục Thăng Long, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào cho biết, ông không hiểu trục này là trục gì, tâm linh hay kinh tế hay “do thừa đất mà làm trục này cho khác với trục khác”.
 
Trục Thăng Long cũng là băn khoăn của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, bởi trục này rất gần trục Láng - Hòa Lạc, chỉ cách nhau có 4km. “Ý kiến cá nhân, tôi không đồng ý đặt trục Thăng Long như thế, quá tốn kém”, ông Khiêm nói.
 
Đại biểu Phạm Thị Loan lại cho rằng, có sự không bình thường ở trục Thăng Long. Theo bà Loan, trục này là sự hợp thức hóa những dự án sắp cấp phép. “Sóc Sơn, Đông Anh còn rất trống, nhưng chúng ta không đả động gì đến, còn trục Thăng Long vẽ quá đẹp, người dân đổ về đây là đúng”, nữ đại biểu này nói.
 
Theo bà Loan, khi các đại biểu đang thảo luận về quy hoạch, bên ngoài thị trường bất động sản đang rất sôi động, nhất là xung quanh trục Thăng Long. Trong khi đó, ở một thái cực khác, các khu vực như Đông Anh, Sóc Sơn lại rất… êm dịu.
 
“Chỉ vẽ cho đẹp thôi!”
 
Đại biểu Phạm Thị Loan cho rằng, đồ án quy hoạch lần này chưa đạt mục tiêu, bởi chưa giải quyết được các vấn đề đặt ra, đơn cử như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, úng ngập… Giải pháp cho các vấn đề này như thế nào, thời gian giải quyết ra sao, theo bà Loan chưa rõ. Đặc biệt, quy hoạch mới động chạm tới 30% diện tích đất, trong khi 70% còn lại vẫn giữ nguyên là làng mạc, hành lang xanh…
 
Đại biểu Nguyễn Ngọc Đào cho rằng, đồ án chưa đầy đủ thông tin, nhất là vấn đề hệ quả phân bố dân cư sẽ như thế nào. “Chẳng nhẽ giới trí thức, các đại gia lên Ba Vì sống, còn bà con từ Ba Vì sẽ về đây sống vì hiện nay đã có nhiều đại gia lên mua đất trên Ba Vì”, ông Đào nói.
 
Quy hoạch mới động chạm tới 30% diện tích (Ảnh: Việt Hưng)
 
Nhìn tổng thể đồ án, đại biểu Trần Du Lịch nhận định, trong vòng một năm lập một quy hoạch đô thị của hơn 3.300 km2 là… “vĩ đại quá”. Theo ông Lịch, suốt hơn 1.000 năm, ông bà ta chỉ làm được 455km2 đô thị, nhưng chỉ với 20 năm đồ án đặt mục tiêu đô thị hóa gấp 3 lần và hiện đại hơn.
 
Động lực kinh tế nào để có một đô thị lớn như vậy cũng như động lực nào để có 5 đô thị vệ tinh bằng 5 thành phố Đà Nẵng hiện tại là câu hỏi ông Lịch đặt ra. “Nói 90 tỷ USD,  nhưng tôi không tin có thể đủ, không thể làm được, chúng ta chỉ vẽ cho đẹp thôi. Đô thị 10 triệu dân là siêu đô thị…cần tiếp tục nghiên cứu, không nên vội phê duyệt một đồ án như vậy”.
 
Đại biểu Phạm Thị Loan cũng nghi ngại tính khả thi của đồ án, bởi theo bà, dự án đại học Quốc gia hay con đường Ô Chợ Dừa – Voi Phục hơn chục năm không làm nổi, chứ chưa nói tới đồ án  đồ án quy hoạch “khủng khiếp” như lần này. Ngay khoản 90 tỷ USD để thực hiện quy hoạch bà Loan cũng không tin có thể tìm ra nguồn.
 
Cấn Cường - Phương Thảo

Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010

100531- Quy hoạch thủ đô: Thiếu tầm nhìn

Theo đại biểu Quốc hội, nhà sử học Dương Trung Quốc, thủ đô Hà Nội từ năm 1954 tới nay đã có 6 lần quy hoạch nhưng tính khả thi đều rất thấp

* Phóng  viên: Quốc hội (QH) tuần này sẽ xem xét quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050. Nếu bỏ phiếu thì ông bỏ phiếu thế nào?

 
- Đại biểu Dương Trung Quốc: Tôi sẽ bỏ phiếu trắng như đã bỏ phiếu với nghị quyết của QH về việc mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội tại kỳ họp thứ 3 (QH khóa XII, tháng 5-2008). Chính phủ chuẩn bị bên trong thế nào tôi chưa được biết song rõ ràng những điều mà người dân và đại biểu QH như tôi biết đều quá ít. Tôi thấy chưa đủ an tâm, chưa đủ dữ liệu.
 
Chưa có tri thức đô thị hiện đại
 
* Những điều gì còn khiến ông băn khoăn?
 
- Chúng ta đang quy hoạch thủ đô thuộc loại lớn nhất thế giới và mong muốn làm thật hiện đại nhưng tri thức của chúng ta về một đô thị hiện đại chưa có. Khi không có văn hóa đô thị, tức là không có cái ruột bên trong thì không có cái “vỏ” nào có thể vừa được. Quy hoạch trên một địa bàn rộng lớn như thế song cái gì cũng thu hút về Hà Nội thì làm sao có thể phát triển được. Chúng ta đã biết dưới lòng Hà Nội cổ vốn là một con sông với nền đất yếu mà lại muốn có cả tàu điện ngầm, nhà cao tầng, đô thị dưới mặt đất... thì làm sao thực hiện được.
Mô hình thành phố bên bờ sông Hồng trong quy hoạch Hà Nội đang có nhiều ý kiến khác nhau
 
* Nhưng cơ quan soạn thảo lại cho biết chuẩn bị rất kỹ lưỡng, đã trưng bày lấy ý kiến nhân dân?
 
- Đó chỉ là hình thức. Không có thông tin hay chưa đủ thông tin thì mỗi người có thể góp ý khác nhau. Ý kiến nhân dân rất vô cùng bởi phụ thuộc vào lợi ích, hiểu biết của mỗi người... Số đông sẽ quan trọng khi vấn đề quan trọng đã được giải quyết, tức là người có chuyên môn đã phát biểu đầy đủ ý kiến.
 
* Quy hoạch còn được liên doanh tư vấn quốc tế tư vấn?
 
- Đó là điều tốt song không thể bằng ý kiến của giới chuyên môn tại chỗ. Lực lượng này không chỉ hiểu biết về kiến thức quy hoạch chung mà biết rõ về thông thổ, địa lý, văn hóa, chiều sâu tâm thức của người VN, người sử dụng không gian thủ đô. Tôi cảm thấy chúng ta chưa lắng nghe đầy đủ các ý kiến hay có rồi mà chưa gạn lọc được hết các ý kiến giá trị.
 
Lo cho tính khả thi 
 
* Có hợp lý khi quy hoạch trung tâm hành chính sát chân núi Ba Vì nhưng hiện lại đang xây dựng trụ sở nhiều bộ ngành tại khu Mỹ Đình, cách đó vài chục km?
 
- Đó là do điều hành của chúng ta không có tầm nhìn xa. Rõ ràng nếu chính phủ nói việc mở rộng Hà Nội được chuẩn bị nhiều năm rồi thì không bao giờ có chuyện bất hợp lý như thế xảy ra.
 
* Việc đưa cơ quan đầu não hành chính lên sát chân núi Ba Vì có phải là một sự “dời đô”?
 
- Tôi không nghĩ đó là một sự dời đô vì nếu chúng ta đồng nhất hành chính với chính trị thì mới là dời đô. Nhưng đặt trung tâm hành chính ở Ba Vì có thuận lợi không thì chỉ những nhà chuyên môn mới nói được. Cái khó nhất hiện nay là nhận thức của những người thiết kế và những người sử dụng có độ chênh về chia sẻ quan điểm.
 
* Ông nghĩ sao về trục tâm linh gọi là trục Thăng Long trong quy hoạch?
 
- Trục tâm linh là có vì nó tồn tại trong tâm thức con người nhưng đừng biến nó thành con đường. Con đường hình thành là do công năng sử dụng của nó chứ đừng biến tâm linh thành con đường, nhất là xây dựng một con đường thì xây nhiều thứ hai bên con đường nữa. Đừng làm gì phá hủy môi trường sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành không gian tâm linh.
 
* Ông thấy sao về tính khả thi của quy hoạch lần này?
 
- Đây đúng là điều đáng lo nhất. Quy hoạch hạ tầng phải đi đôi với quy hoạch thượng tầng. Trong thượng tầng đó có pháp luật, giáo dục và cuối cùng là con người. Quy hoạch thì phải kèm theo những giải pháp để thực hiện quy hoạch đó, đặc biệt là giải pháp về pháp luật. Đó là còn chưa nói tới điều khó hơn giải pháp pháp luật là tập tính, tập quán và hiệu quả thi hành pháp luật của chúng ta. Từ năm 1954 đến nay đã có 6 lần quy hoạch thủ đô rồi nhưng tính khả thi đều rất thấp. 

Cần hơn 90 tỉ USD cho xây dựng

 
Dân số Hà Nội hiện nay trên 6,4 triệu người. Đến năm 2020, dự báo dân số khoảng 7,1-7,4 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa đạt 64%; đến năm 2030, khoảng 9-9,2 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa đạt khoảng 70%. Năm 2050, đạt ngưỡng dân số tối đa khoảng 10,8 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa khoảng 80%.
 
Giai đoạn đến 2020, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng kỹ thuật với tổng kinh phí 30,7 tỉ USD, đến năm 2030 tăng thêm khoảng 28,9 tỉ USD và đến năm 2050, thêm 29,9 tỉ USD. Tổng cộng cần khoảng 90,5 tỉ USD cho xây dựng thủ đô đến năm 2050.
 
Phạm Dương thực hiện

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2010

100517- Một Hà Nội khác...

 Có một Hà Nội khác âm thầm, lặng lẽ phía sau một Hà Nội ồn ã, nhộp nhịp. Cuộc sống thường nhật đang diễn ra trong những con ngõ nhỏ hun hút của phố cổ ấy là sự trầm lắng của người dân nơi 36 phố phường.

Cuộc sống muôn mặt ấy, phần nào lại là những phong vị không thể thiếu để làm nên một Hà Nội “36 phố phường”, cổ kính.

Không gian chật chội, sự phức tạp trong sinh hoạt, và quanh năm tăm tối ngày như đêm trong mỗi con ngõ... đó là những tất yếu không riêng của thành phố lâu đời và đông dân cư như Hà Nội.

Thời gian làm cho góc những con phố rêu phong, thời gian cũng vô hình gắn kết tình cảm phố phường, con người trở nên sâu nặng. Song, một mặt nào đó chính thời gian lại làm cho chính những con người ấy có thêm âu lo trong những con ngõ nhỏ, phố nhỏ của khu phố cổ.

Dưới đây là chùm ảnh về những góc phố, những ngõ nhỏ từ lâu vốn đã trở thành một nét quen thuộc của người Hà Nội.

Ở phố cổ, con ngõ như thế này cũng là nơi vui chơi của trẻ nhỏ
 
Bảng tin được coi như “người nhắc việc” thường nhật trong ngõ nhỏ.
 
Ngõ 47 phố Hàng Bạc có 10 hộ dân sinh sống...
 
...những sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày đều chung tại khoảng trống nhỏ nhoi của con ngõ.
 
..từ khi con ngõ này bị xảy ra cháy đã làm đảo lộn cuộc sống người dân nơi đây.
 
Những khoảng sáng hiếm hoi thường được dùng để làm nơi phơi phóng.
 
Có những con ngõ được người gắn bó lâu năm cách điệu cổng bằng những lối “kiến trúc tùy hứng”
 
Mỗi con ngõ trong khu phố cổ Hà Nội là một “bảo tàng” về nơi chứa đồ và cảnh sinh hoạt.
 
Ngõ rất nhỏ nhưng không phải ai cũng muốn rời bỏ nó để chuyển đi nơi ở thoáng rộng hơn.
 
Tận dụng bất cứ nơi đâu, nếu có thể.
 
Ánh sáng tự nhiên là điều xa xỉ đối với nhiều con ngõ trên khu phố cổ
 
Thời gian làm cho người dân gắn bó với nơi ở của mình, nhưng thời gian cũng làm cho họ phải thêm lo âu về cuộc sống tạm bợ.

Hữu Nghị

nguồn: http://dantri.com.vn/c20/s20-396255/mot-ha-noi-khac.htm

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

100503- Cứ mở đường là có… nhà siêu mỏng?

Trao đổi với Đất Việt về tình trạng này, TS Phạm Sĩ Liêm, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam và KTS Trần Thanh Vân, nguyên cán bộ Viện Quy hoạch (Bộ Xây dựng) cho rằng: Không nên đổ lỗi cho người dân mà phải quy trách nhiệm cho chính quyền sở tại. 

- Tình trạng nhà siêu mỏng, siêu méo sau khi làm đường có phải là… “đương nhiên” như một cán bộ Sở Xây dựng nhận xét? 

- TS Phạm Sĩ Liêm: Siêu mỏng, siêu méo chỉ có thể xảy ra đối ở mỗi mảnh đất. Tất cả miếng đất trong một đô thị đều có một phương hướng. Khi một con đường được mở ra, nó chỉ đi theo một hướng nhất định và sẽ ăn lẹm vào những mảnh đất nó đi qua. Chính vì vậy mới xuất hiện những mảnh đất siêu mỏng, siêu méo. Còn việc để cho tình trạng xuất hiện nhà siêu mỏng, siêu méo là do người làm quy hoạch - kiến trúc đô thị chưa có biện pháp cụ thể, chứ không phải là chuyện đương nhiên. 

- KTS Trần Thanh Vân: Luật Quy hoạch đô thị rất rõ ràng. Việc xây mới, cải tạo, chỉnh trang, sửa chữa và phá bỏ vật thể kiến trúc có ảnh hưởng đến không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải xin phép cơ quan quản lý có thẩm quyền. Nếu đúng theo quy định pháp luật này, không cấp phép xây dựng cho chủ sở hữu những ngôi nhà này thì làm gì có chuyện xuất hiện ngày càng nhiều nhà siêu mỏng, siêu méo? Nếu những ngôi nhà kiểu này vẫn được xây dựng thì phải tìm hiểu rõ nguyên nhân tại sao người dân lại có giấy phép xây dựng và phải xử lý nghiêm những người cố tình cấp phép. Phải coi việc phá bỏ những căn nhà xây dựng không có giấy phép là chuyện bình thường.  

Làm đúng luật những căn nhà siêu mỏng sẽ không được xây dựng.

- Cụ thể chính sách quản lý và phát triển đô thị hiện nay đang gặp những vấn đề gì?
 

- TS Phạm Sĩ Liêm: Tôi phải nói chính sách phát triển và quản lý đô thị hiện nay là sai lầm. Anh làm đường chỉ biết làm đường, không quan tâm đến việc cảnh quan, nhà ở hai bên đường ra làm sao. Nếu chính sách quản lý thật chặt, làm gì có chuyện làm đường đắt nhất nhưng cảnh quan lại xấu nhất. Do vậy, nếu chúng ta không đưa ra giải pháp đúng đắn thì nhà siêu mỏng, siêu méo cũng có thể được xây dựng trên đoạn Ô Chợ Dừa - Hoàng Cầu vừa được khởi công giữa tháng 4.  

- KTS. Trần Thanh Vân: Chúng ta nói đất đai là tài sản quốc gia. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trong quá trình thực thi lại tạo ra cơ chế ưu tiên người này và o ép người kia. Người giàu thì được lấy đất, người nghèo thì “ngơ ngác” vì mất đất. Mất đất, mất nhà, không công ăn việc làm và việc đền bù không thỏa đáng thì việc họ quyết bám lấy mảnh đất của mình và xây dựng những căn nhà tạm bợ để làm ăn là chuyện đương nhiên. Chúng ta không nên đổ lỗi cho người dân mà phải hỏi năng lực quản lý của chính quyền sở tại sao lại những ngôi nhà xấu xí như vậy xuất hiện một cách lạ lùng.

- Tình trạng xuất hiện nhiều nhà siêu mỏng, siêu méo xuất phát từ giá trị sinh lợi rất cao của những căn nhà mặt đường. Vậy giải pháp nào có thể đảm bảo hài hòa quyền lợi của Nhà nước và người dân? 

- TS Phạm Sĩ Liêm: Cách tốt nhất là khi phát triển một con đường, TP không chỉ quan tâm đến lấy đất mốc chỉ giới của lòng đường, vỉa hè. Chúng ta nên lấy đất để phát triển khu đô thị mới ở hai bên vệ đường, xây dựng khu trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê. Đời sống của người dân sẽ không bị xáo trộn nhiều khi được định cư ngay tại chỗ. Việc đền bù giải phòng mặt bằng sẽ được chia sẻ bởi các công ty xây dựng. Khi đó, Nhà nước sẽ không thể nói tới việc không có tiền giải phóng mặt bằng, mà việc xây dựng các khu đô thi, trung tâm thương mại ở đây sẽ làm cho hai đường đẹp hơn rất nhiều.

- KTS Trần Thanh Vân: Mở đường đem lại lợi ích cho xã hội, tuy nhiên khi lấy đất hai bên đường thì người hưởng lợi nhiều nhất là “nhóm lợi ích giữa chính quyền và doanh nghiệp”. Doanh nghiệp là người có tiền, còn Nhà nước là người đem lại cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư làm ăn. Do vậy, giải pháp mang tính triệt để là chia đều lợi nhuận giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người bị mất đất. Làm được như vậy, Nhà nước sẽ lấy đất xây dựng hai bên đường một cách dễ dàng và giải quyết được tình trạng nhà siêu mỏng, siêu méo.

- Xin cảm ơn! 

“Trước đây, khi xây dựng tuyến đường vành đai 1, đoạn Kim Liên - Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội đã đưa ra hàng loạt chính sách để nhà siêu mỏng, siêu méo không xuất hiện hai bên đường. Tuy nhiên, chỉ vì lý do đền bù giải phóng mặt bằng không thỏa đáng dẫn đến việc làm hỏng luôn cả kế hoạch và mặt phố như hiện nay”, TS Phạm Sĩ Liêm.

Quang Phong (thực hiện)

nguồn:http://www.baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Cu-mo-duong-la-co-nha-sieu-mong/20105/90992.datviet

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

100328- “Thành phố ma” thời hiện đại ở Trung Quốc

Với mục đích ban đầu là cung cấp nhà ở cho 1 triệu người, nhưng 5 năm sau khi bắt đầu khởi công xây dựng, quận đô thị mới Kangbashi vẫn hoàn toàn vắng tanh như một thị trấn bị “ma ám”.

 

Quận Kangbashi là một dự án công ở Ordos, thành phố khai thác mỏ giàu có ở Nội Mông, Trung Quốc. Khu vực đã được lấp đầy bằng những tòa tháp văn phòng, những trung tâm hành chính, những tòa nhà chính quyền, bảo tàng, rạp chiếu phim, sân vận động. Đó là chưa kể đến tầng tầng lớp lớp những lô nhà sát vách, nhà boongalô dành cho tầng lớp trung lưu. Vấn đề duy nhất là: khu vực được thiết kế là nơi ở, vui chơi giải trí cho 1 triệu người giờ hầu như vẫn chưa có ai sinh sống.

 


Mặc dù rất nhiều khu đất, nhà ở quận Kangbashi đã được bán và ước tính một triệu người sẽ sống ở Kangbashi cho tới năm 2010 này, nhưng hiện thành phố vẫn vắng lặng.


Các tòa nhà chung cư hầu như vẫn vắng vẻ người. Chính quyền Ordos đã quyết định xây dựng Kangbashi để giải quyết vấn đề chỗ ở chật chội cho người dân Dongsheng, cách Kangbashi nửa giờ đi xe.


Hai công nhân quét dọn bên ngoài thư viện công. Thành phố tự hào có thu nhập trên đầu người cao thứ hai Trung Quốc, chỉ sau Thượng Hải và trên cả Bắc Kinh.


Bảo tàng Ordos đang được xây dựng.
 

Tượng 2 con ngựa khổng lồ ở Quảng trường Linyinlu.


Một khu vực thương mại "vắng như chùa bà Đanh" ở Kangbashi. Hầu như chưa có doanh nghiệp nào chuyển tới quận mới này.


Những con phố vắng vẫn hoàn toàn vắng lặng trong giờ “cao điểm” buổi sáng.


Nhưng các dự án xây dựng ở Kangbashi vẫn tiếp tục.


Các công nhân đang xây dựng một trung tâm mua sắm cho những cư dân chưa có mặt ở một khu chung cư.

Kangbashi vẫn đang đợi các cư dân để đưa thị trấn này trở lại cuộc sống. Người ta đã dự tính số dân cư của thành phố này sẽ bằng với dân cư thành phố Diego, California, Mỹ.
 

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2010

100317- Nhà ống và xe gắn máy: Diện mạo hay bản sắc?

Nhà ống và xe gắn máy đã thực sự trở thành biểu tượng quốc gia của Việt Nam - Ảnh: Lê Toàn.

Người Việt Nam đang sống ở đâu và sống như thế nào trong cái không gian đô thị như hiện nay?
Bộ mặt đô thị là hình ảnh trực tiếp nhất thể hiện khía cạnh văn hóa xã hội của một đất nước. Sắc thái đô thị biểu hiện qua cách tổ chức không gian đô thị và không gian sinh hoạt xã hội.
Trên khía cạnh văn hóa quốc gia về nhận thức, trình độ, cách ứng xử nhìn từ góc độ đại chúng thì gia đình có thể được xem như là tế bào hình thành nên bộ mặt và không gian văn hóa quốc gia. Trong đó cái nết ăn ở của từng tế bào thể hiện và phản ảnh các giá trị cơ bản cấu thành tính cách của một dân tộc.

Người Việt Nam đang sống ở đâu và sống như thế nào trong cái không gian đô thị như hiện nay?
Bỏ qua những nhận định dài dòng mang tính biện minh cho một cái gì đó định sẵn; bỏ qua những câu nệ về văn hóa lịch sử nhì nhằng… Cứ nhìn thẳng vào thực tế những gì đang hình thành và diễn ra ngay trước mắt, không thể chối bỏ sự thực là hiện nay chúng ta đang sống trong những cái chợ, những cái chợ lớn nhỏ tùy theo quy mô của đô thị, của quần cư mà chúng ta đang hít thở và sinh hoạt mỗi ngày.
Những cái chợ theo nghĩa đen nhiều hơn nghĩa bóng với đầy đủ tính chất, đầy đủ các mặt sáng tối của từ này. Những cái chợ này đã xóa hẳn cái tiếng tăm Hòn Ngọc Viễn Đông của Sài Gòn, đã từng ngày nuốt chửng cái không gian thấm đượm màu sắc văn hóa lịch sử của Hà Nội, đè lên cái nét thi ca tự tình của Huế, đang dồn cái không gian lãng mạn ngút ngàn hoa cỏ của Đà Lạt dần đi vào dĩ vãng…

Cái gì mà có sức tàn phá một cách cuồng bạo, chỉ trong một thời gian ngắn đã làm biến thể cả một bộ mặt đô thị, bộ mặt đất nước như thế?
Tại các đô thị lớn nhỏ hiện nay, 90% dân số sống trong các nhà ống và sử dụng xe gắn máy là phương tiện đi lại chính. Nhà ống và xe gắn máy, chắc chắn đã là hình thái của xã hội ta. Có ai hay cơ quan nào xem xét cạn cùng vấn đề này để trả lời câu hỏi: Nhà ống và xe gắn máy là diện mạo hay bản sắc của Việt Nam? Câu trả lời không khó, vấn đề là chúng ta có thực sự nhìn nhận thực tế đó hay còn đang mộng tưởng vào những viễn cảnh đô thị xa vời nào đó hoặc đang để mối quan tâm hoài vọng về những giá trị tinh thần xa lắc trong quá khứ!

Nhà ống và xe gắn máy thực sự đã trở thành biểu tượng quốc gia. Biểu tượng: Hình ảnh + Tinh thần có tính chất phổ biến và trực tiếp tác động lên đời sống xã hội.
Không biết tự bao giờ và nguyên do từ đâu, người Việt bây giờ có lẽ đang sống và sắp đặt cuộc sống của mình theo kiểu đa hướng. Sự đa hướng là nguyên tắc tồn tại một cách có ý thức và vô thức trong suy nghĩ của mỗi người. Ai cũng thấy và cần phải biết làm cùng lúc nhiều việc khác nhau như là phương cách bắt buộc để tồn tại.
Đa phần sinh viên tốt nghiệp kiếm sống bằng công việc chẳng liên quan gì tới việc học trước đó; một quan chức nhà nước có thể ngồi vào bất cứ chiếc ghế nào và xử lý bất cứ loại công việc nào cũng được; trên đồng ruộng nay trồng cây này, mai cây kia và mốt lại hoàn toàn có thể trở thành nền nhà hay sân golf… Nhà văn vừa viết vừa vẽ, nhạc sĩ vừa hát vừa phục vụ bia rượu cho các “thượng đế”, từ người mới biết đọc biết viết đến các bậc học giả ai cũng nói pha trộn lẫn lộn vào tiếng Việt cùng lúc mấy loại tiếng nước ngoài, tiền đồng, tiền đô, tiền Nhật, tiền châu Âu đều xài được.
Kiến trúc sư thường xuyên được các thân chủ yêu cầu thiết kế với tiêu chí: nhà tôi phải vừa ở vừa kinh doanh được, mặt bằng dành cho kinh doanh phải đáp ứng được nhiều dạng kinh doanh khác nhau, cụ thể là có thể cho thuê văn phòng, mở tiệm cắt tóc gội đầu, khi cần có thể cải biên thành quán ăn, khách sạn hay tiệm mát-xa…
Thực tế trên đường phố hiện nay, có thể bên cạnh trụ sở công an là quán nhậu, rồi thì tiệm tạp hóa, thời trang, nhà giữ trẻ, quán karaoke, tiệm ăn… Ở đâu cũng kinh doanh mua bán, mua bán từ trong nhà ra tới lòng lề đường, đứng ngồi đủ kiểu. Người ta luôn cần một ngôi nhà đa dụng, mà một ngôi nhà đa dụng tốt nhất nên là một ngôi nhà mặt tiền.

Có cầu ắt có cung, thế là đô thị cứ lan rộng, nhiều khu đô thị mới đua nhau mọc lên với nhiều đường sá được xây dựng để đáp ứng nhu cầu mặt tiền. Nếu đô thị hiện hữu đã là những cái chợ thì đô thị mới cũng vậy, số vụ tai nạn giao thông không kiềm chế được bởi vì bây giờ người ta làm đường để bán đất chứ đâu phải để dùng cho giao thông!
Vấn đề đô thị lan rộng đã được thế giới rút ra nhiều bài học cay đắng, đô thị càng lan rộng thì không gian đô thị càng lâm vào bế tắc trên mọi mặt: giao thông, môi trường cảnh quan, phúc lợi xã hội… cộng thêm tệ nạn xã hội lan tràn không kiểm soát được, sự cân bằng môi trường sinh thái bị phá vỡ không gì cứu vãn được.
Đã là nhà ống thì nhất thiết phải sử dụng xe gắn máy. Phương tiện này có sự hữu hiệu không thay thế được. Chiếc xe gắn máy chiếm rất ít chỗ trong nhà, già trẻ, lớn bé, nam nữ đều sử dụng được, tiện lợi cho mọi mục đích đi lại và chuyên chở, khi cần có thể trở thành phương tiện sinh nhai và nhất là muốn dừng lại ở đâu cũng được. Nhà ống và xe gắn máy là hai mặt không thể tách rời của cơ cấu đô thị hiện nay, chúng tồn tại cộng sinh và như là một điều hiển nhiên tối ưu không phải bận tâm chọn lựa.

Dân tình bây giờ không phải tìm cách thích ứng với cơ cấu xã hội-môi trường đó mà chính là kiểu đô thị chợ với nhà ống và xe gắn máy đang quy định cách sống, cách ứng xử, cách suy nghĩ hay tựu trung màu sắc văn hóa của nó phủ lên toàn bộ đời sống xã hội đến từng cá nhân.
Mới đầu thì tập cho quen, dần dà trở thành tập tính và tư duy của cộng đồng. Tập tính và tư duy của kẻ chợ đó là:
Sống theo kiểu tranh cướp nhau: không gian công cộng điển hình là vỉa hè thuộc quyền sử dụng của kẻ nào ngang ngược và bặm trợn hơn. Người ta không mảy may ưu tư về việc buôn gian bán lận lừa lọc người khác và có khi coi đó như là một thủ thuật kinh doanh tất yếu. Thậm chí có nhiều quan chức còn đặt vấn đề đưa vỉa hè vào thương trường.
Sống ích kỷ và hung bạo: bây giờ người ta sẵn sàng gây hấn, xung đột nhau chỉ vì những nguyên nhân nhỏ nhặt nhất, ai cũng tranh được phần mình bất kể quyền lợi và danh dự của người khác. Nam nữ, già trẻ đua nhau vặt trụi một vườn hoa ngày Tết chỉ trong một buổi tối; 500 nhân viên chuyên nghiệp mới đủ để bảo vệ mấy cành đào…?!

Sống mất trật tự, xem thường kỷ cương: bây giờ cái gì cũng chạy, giấy phép loại gì cũng chạy (mà giấy phép bây giờ rất nhiều), con cái đi học cũng chạy, đau ốm vào bệnh viện cũng chạy, chạy thủ tục, chạy án, chạy tới công sở, chạy tới đình chùa miếu mạo, từ người tử tế đến kẻ bất lương tất cả đều phải chạy và hình như việc gì cũng có chỗ để chạy. Sẽ ra sao với một đất nước mà điều không thể vẫn có cơ hội để trở thành có thể và cứ như vậy thì luật pháp và những quy tắc cộng đồng sẽ chỉ dùng để trang trí vì khi đó phần thắng luôn thuộc về kẻ giỏi chạy, biết chạy bất cứ ở đâu và bằng gì!

Và cứ như thế xã hội ngày càng bát nháo, bát nháo không chỉ ở diện mạo của nó mà có sự góp phần một cách vô thức của từng cá thể cấu thành cái không gian giao tiếp, cái không gian tâm tưởng, cái không gian văn hóa… của cộng đồng chúng ta.
Trở lại vấn đề nhà ống và xe gắn máy, đã đến lúc xem xét vấn đề này không đơn thuần như là một diện mạo xã hội mà như một bản sắc quốc gia. Dẫu đau lòng, nhưng phải công nhận đó như là một sự thật hiển nhiên phải đối mặt, đó là một vấn đề văn hóa cấp quốc gia, là bộ mặt đất nước mà lương tri tối thiểu của người có chút suy nghĩ không thể bỏ qua hoặc ngó đi chỗ khác.

Có thể nào gọi là phát triển một khi phúc lợi xã hội ngày càng nghèo đi, diện mạo đất nước ngày càng luộm thuộm, lòng người ngày càng phân tán, nhỏ nhen. Nhiều đường sá được xây dựng, nhiều nhà cao tầng mọc lên, vật chất thời thượng tràn đầy, từ ngữ hiện đại và phong cách luôn được nói tới như một chuẩn mực sống văn minh và hội nhập, nhưng phải chăng đó là một cách để che đậy sự nghèo nàn về tinh thần bên trong và biện minh cho sự tiếp nhận ào ạt màu sắc văn hóa ngoại lai tràn ngập, thúc con người lao vào cái bóng sáng ngoại nhập đó như con thiêu thân lao tới cái bóng đèn, xem đó là cái đích duy nhất, gạt sang một bên và bỏ lại sau lưng sự đằm thắm của nhân cách, sự tĩnh lặng của tinh thần - những giá trị bền vững cần có trên bình diện tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc.

Có nhà văn nào đó đã nói một điều làm chúng ta phải suy nghĩ: “Nếu không mục ruỗng từ bên trong thì không có gì từ bên ngoài có thể thâm nhập được”.
Ngôi nhà, không gian sống, tế bào của xã hội bây giờ gần như không còn là nơi gìn giữ những giá trị tinh thần, những giá trị về màu sắc nhân văn riêng biệt trong tâm tính và tâm hồn của mỗi người Việt Nam tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ sau. Gia đình bây giờ tồn tại trong không gian xã hội, nơi mà ngôi nhà được dựng lên như là một giao điểm xã hội với mọi thứ xô bồ ngang dọc, mang đến toàn bộ tác động từ hoàn cảnh và môi trường chung quanh. Cái môi trường xã hội giàu sự đua chen và bắt chước lại rất nghèo về tinh thần và tính nhân văn.

Văn hóa không có trong những mộng ước. Văn hóa tồn tại trong thực tiễn đang diễn ra từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày. Mọi sự nhận định, phê phán, mọi sự mong muốn đều phải được rút ra từ phương pháp đối diện với cuộc đời, đối diện thẳng thắn với cội nguồn của sự việc.
Mọi sự bàn luận, đánh giá sẽ trở nên sáo rỗng nếu không xuất phát từ những định nghĩa có tính chất cốt tử.
Không phải là nhà nghiên cứu khoa học xã hội chuyên nghiệp, không có hệ thống dữ liệu để tổng hợp cho cái nhìn toàn diện; không thông thạo lịch sử và không là nhà nghiên cứu văn hóa…, với cái nhìn hạn hẹp và có phần chủ quan của một kiến trúc sư hay quan sát, cộng thêm chút kiến thức và cảm nhận về lịch sử phát triển đô thị thế giới trên khía cạnh nhân văn, tôi muốn nêu lên một câu hỏi - theo sự chủ quan cá nhân - có ý nghĩa quan trọng và căn bản để tạo tiền đề, điểm xuất phát cho bài toán hoạch định xã hội: “Nhà ống và xe gắn máy: Diện mạo hay bản sắc?”.
KTS. Võ Thành Lân