Hiển thị các bài đăng có nhãn chủquyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủquyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

Ngõ "khổ" Hà Thành

Ngõ, đôi khi, trầm mặc như cụ già, đôi khi lại dồn dào như người trẻ tuổi. Cũng hờn ghen, giận dỗi, ngõ trong lòng phố ấp ôm trong mình biết bao buồn vui...

Ngõ Hà Nội khác nhiều so với ngõ ở những thành phố khác. Và tất nhiên, ở Hà Nội không phải con ngõ nào cũng giống nhau.

Ngõ chật

Chật đến nỗi, người béo béo mà đi vào thì chỉ có cách là... đi nghiêng. Còn hai người một đi ra một đi vào muốn tránh nhau giữa ngõ thì... không thể. Bởi cái ngõ 14 Ngõ Gạch này chỉ vỏn vẹn chưa đầy 50 phân (cm).

Gần cuối ngõ, bà Nguyễn Thị Nga, người làm dâu con ngõ này hơn ba chục năm đang nấu bếp. Ngõ chật đương nhiên bếp phải chật, nhưng thật khó tưởng tượng, bà Nga vẫn xoay xở được trong cái bếp hẹp y như cái ngõ nhà bà. Mấy cái bếp than tổ ong xếp thành hàng dọc chạy theo mép tường, tôi len vào chụp ảnh, quay ngược người trở ra, chới với suýt lộn cổ vào nồi chảo trên bếp.
f
 

Ngõ nhỏ, nhà chật quá, nên chả bao giờ con cái bà Nga dám mời bạn bè về nhà chơi. Một phần vì... ngượng, một phần bạn bè kéo đến, nhà chật không biết ngồi vào đâu.

Cuối ngõ là bốn gian nhà tắm kiêm nhà vệ sinh xinh xinh. Mỗi hộ có một cái khóa, dùng mở - xong khóa. Ấy cũng là mới có thôi, chứ lúc trước, có mà  tắm lộ thiên ở đoạn góc cua của ngõ  ấy. Bà Nga nhễ nhại mồ hôi, tả xung hữu đột trong cái bếp quái dị bậc nhất Hà Thành, bởi nó chỉ là một hình chữ nhật chiều rộng có 40 phân, chiều dài hơn 1m.

Mẹ chồng bà Nga đã 84 tuổi, đã chứng kiến biết bao thăng trầm của con ngõ này. Nhưng cụ bà vừa phải đi "sơ tán" vì... nóng quá. Những ngày Hà Nội "rót lửa", căn phòng 10m2 "rang" mấy người nhà bà Nga đến trầy tróc cả lưng vì sàn nhà bỏng rẫy. Nhưng vẫn phải ở vì còn biết đi đâu. Gửi được bà cụ đã là tốt lắm rồi.

Tôi leo lên căn gác nhà bà Nga. Khoảng 8 hộ gia đình hiện còn cùng nhau chung sống trong con ngõ này và cùng chịu chung cảnh chật. Chật từ con ngõ đến căn hộ. Tường ngăn giữa nhà bà Nga và nhà hàng xóm là một tấm... liếp.

Bà Nga cứ tủm tỉm cười khi tôi bảo: Cách nhau "bức vách" siêu mỏng như thế này, nhà mình mà làm gì, nhà hàng xóm biết cả nhỉ? Ngăn nhau bằng liếp nên có muốn, cũng không thể lắp điều hòa. Chẳng lẽ lại treo điều hòa vào cái liếp. Có mấy chục phân bức tường phía trên cửa sổ nhìn xuống ngõ, nhưng sờ vào là vữa vụn ra lả tả, cũng chẳng dám treo điều hòa lên.

c
  Ngõ 80 phố Đồng Xuân, Hà Nội.

Ngõ chật quá, nên chuyện giải quyết người chết cũng phiền. Ngày xa xưa, còn có  một cái lỗ trên tầng hai, có người chết thì bó lại rồi cho trượt theo tấm liếp đẩy xuống tầng một. Bây giờ thì người ta xây lấp cái lỗ đấy lại rồi. Người chết chỉ còn cách là phải ra khỏi nhà, ra khỏi ngõ mới được phép... chết.

Nếu lỡ chết trước khi ra khỏi ngõ, thì người nhà phải tức tốc cõng xác chết ra nhà tang lễ Phùng Hưng, hay nhà xác bệnh viện. Ở đấy mới cho nhập quan được. Chứ ngõ hẹp quá, quan tài không vào không ra được. Giường tủ, bàn ghế, muốn đưa vào thì còn có cách là tháo rời ra, rồi lại ghép vào, chứ quan tài không tháo ra lắp vào được vì người ta kiêng. 

Ngõ sâu

So với những con ngõ vừa hẹp, vừa sâu, vừa tối, ở khu vực phố cổ  Hà Nội thì ngõ 25 Hàng Buồm vào hàng "top ten". Nó chiếm luôn cả ba yếu tố: hẹp, sâu, tối. Vào ngõ, tôi phải lần mò. Vịn tay vào tường, tôi đi từng bước một, lò dò như đứa trẻ mới tập đi. Vậy mà vẫn bước hụt hai lần.

f
Sinh hoạt trong ngõ nhỏ  của người dân phố cổ.

Ngõ có tam cấp Kguyên trước đây là gian nhà kho của người Tàu. Họ rút đi, những người công nhân Hà Nội mới đến ngăn ra thành từng phòng nhỏ. Ba cấp nhà trước đây cao, sau nhiều thời gian, thành cấp nhỏ, độ chênh lệch không cao lắm nhưng cũng đủ khiến người lần đầu vào ngõ bước hụt.

Vừa lần tường vừa đếm đến bước thứ 89 thì tôi không thể tập trung đếm được nữa vì sợ ngã. Lúc này, tôi phải tập trung hết tâm trí vào việc rà rà chân trước khi đặt cả bàn chân xuống. Lần đầu tiên tôi bước đi trong một con ngõ giữa thủ đô mà lại vất vả và căng thẳng đến thế. Ấy là bây giờ, nó đã được ngăn lại, chứ trước đây, nó còn dài xuyên sang tới cả phố Đào Duy Từ.

Bà Phạm Kim Hảo, kiều nữ nhà cụ Khôi Ký, giàu sang danh giá bậc nhất Hà Thành khi xưa, nổi tiếng bởi nghề buôn kim cương tiếp chuyện tôi ở trước cửa số nhà 25. Số nhà này là một cửa hàng bán quần áo thời trang. Ngoài hè là một hàng ăn, ngoài nữa, sát ngoài đường, là tiệm sửa xe đạp - cũng... tam cấp y như con ngõ của họ.

Bà Hảo cười khi tôi than thở về hành trình "thám hiểm" con ngõ. Bà bảo: Cô chưa quen, chứ trẻ con ngõ tôi, chúng nó chạy rầm rầm, có ngã đâu. Phố nhỏ, hè ngỏ, ngõ nhỏ, vỉa hè người lớn buôn bán, trẻ con phải "rút" vào chơi trong ngõ. Vừa hẹp vừa sâu vừa tối, mà chúng nó vẫn chơi, vẫn lớn. Hỏi chuyện cãi vã trong ngõ, bà Hảo bảo con người mà, cũng có khi không bằng lòng về nhau.

Nhưng ngõ hẹp thế kia, phải "giáp lá cà", gặp nhau suốt, nên không thể giận lâu. Người trong ngõ, ban ngày sống cả ngoài đường, tối đêm mới về, đặt lưng ngủ vài tiếng, sớm mai lại "bươn" ra đường kiếm sống, lâu dần cũng thành quen, không thấy phiền lắm. 

Ngõ thấp

Chẳng phải chỉ có con ngõ 80 Đồng Xuân mới thấp đến như thế. Gọi là ngõ, nhưng thực ra, nó là lối dẫn vào những hộ gia đình sống trong số nhà 80 thành ngõ. Tôi bước vào ngõ, giơ một cánh tay lên, chạm tới trần luôn.

d
 

Anh Hùng, một người sống trong ngõ than phiền: Trước đây, ngõ không chật và thấp như thế này. Người ta xây sửa, cứ nới ra. Thành ra ngõ hẹp. Còn ngõ thấp là vì người ta làm gác xép. Các hộ gia đình đi ra đi vào phải đi phía dưới gác xép của căn nhà bên ngoài. "Ngõ của chúng tôi bây giờ, cái cáng cấp cứu không lọt, người cao cao một chút vào ngõ thì phải cúi. Kiến nghị nhiều lần rồi mà vẫn thấy chính quyền... im re. Nói dại có hỏa hoạn, thì những người trong ngõ rất khó thoát thân" - anh Hùng thở dài.

f
 Số 25 Hàng Buồm, Hà  Nội vừa sâu vừa tối và thấp.

Tôi lại đi qua con ngõ  30 Đồng Xuân, cụ bà 87 tuổi ngồi bán vàng hương. Nụ cười móm mém đưa chuyện: Ngõ này sáu chục phân là hạnh phúc lắm rồi. Rộng chán so với bao nhiêu ngõ khác ở quanh cái chợ Đồng Xuân này.

Quả thật, không thể  đếm xuể những con ngõ hẹp, sâu, tối ở Hà Nội. Những con ngõ không được mang những cái tên riêng mĩ miều như Tạm Thương, Thổ Quan, Cấm Chỉ... mà chỉ được mang tên theo số của căn nhà mặt đường. Những ngõ 22 Hàng Cân, 43 Hàng Đường, ngõ 13, 78 Đồng Xuân, ngõ 22 Hàng Vải, 23 Hàng Giấy... ôi chao, rất hẹp, rất dài, và rất sâu...!

Khi tôi bảo ở phố cổ thì danh giá, dù sao cũng được tiếng là  trung tâm, bao nhiêu người mơ ước, bà Nga chép miệng: Ngày xưa là phố cổ, bây giờ là  phố khổ, ngõ khổ. Nhà nước mà cho di dời, tôi xin đi đầu tiên. Đúng là không có  cái khổ nào giống cái khổ nào. Tất nhiên, những nỗi khổ này, chỉ ngõ hẹp Hà Nội mới có.

Việt Nga 

nguồn: http://bee.net.vn/channel/1988/201008/Ngo-kho-Ha-Thanh-1764590/

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Chưa có giấy chủ quyền vẫn được cấp phép xây dựng

Gần đây, nhiều bạn đọc tại các huyện ngoại thành và quận ven TPHCM nêu thắc mắc một số vấn đề liên quan đến việc xin cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ. Phóng viên Báo SGGP đã liên hệ với Sở Xây dựng TPHCM và được cho biết sở đã hướng dẫn các địa phương về hướng giải quyết những vướng mắc trong việc này.

3 điều kiện để được cấp phép


Sở Xây dựng TPHCM cho biết, đối với trường hợp nhà ở riêng lẻ không có giấy tờ pháp lý về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (gọi tắt là giấy chủ quyền), nếu người dân có nhu cầu, vẫn có thể được xem xét cấp giấy phép xây dựng, nhưng phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu: nằm trong khu dân cư hiện hữu, ổn định, sử dụng trước ngày 1-7-2004; phù hợp quy hoạch là đất ở; chủ nhà phải có giấy cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về ranh giới thửa đất đang sử dụng (kể cả phần tường chung với các nhà liền kề, nếu có), không có tranh chấp, khiếu nại và phải được UBND phường, xã, thị trấn nơi công trình xây dựng xác nhận.

Cần nói rõ thêm, nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân hoàn chỉnh thủ tục pháp lý về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Do đó, nếu chủ đầu tư có nhu cầu được cấp phép xây dựng khi chưa có giấy chủ quyền, thì chính quyền chỉ xem xét cấp phép trong phạm vi ranh đất theo ranh hiện trạng nhà cũ và phải phù hợp quy hoạch (không lấn chiếm lộ giới, không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật, sông, kênh, rạch…). Trường hợp chủ đầu tư có nhu cầu xây dựng công trình trên ranh đất lớn hơn ranh hiện trạng nhà cũ hoặc thay đổi vị trí khác, thì phải hoàn tất thủ tục pháp lý về quyền sử dụng đất trước khi xin cấp phép xây dựng.

Riêng những trường hợp dù đáp ứng được điều kiện 1 và 3 nêu trên nhưng lại không phù hợp quy hoạch xây dựng, nếu người dân có nhu cầu xây dựng nhà ở, chính quyền sẽ xem xét cấp giấy phép xây dựng tạm. Chủ đầu tư phải cam kết tự tháo dỡ không điều kiện nhà ở, công trình xây dựng khi nhà nước triển khai thực hiện quy hoạch.

Xin xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp

Một số bạn đọc nêu thắc mắc: Trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích sử dụng là đất nông nghiệp, nay muốn xin xây dựng nhà ở thì có được cấp phép xây dựng hay không? Sở Xây dựng TPHCM cho biết, vấn đề này sẽ được phân loại để giải quyết theo 2 trường hợp. Trường hợp thứ nhất, nếu thửa đất ấy nằm trong khu vực phù hợp với quy hoạch xây dựng là đất ở, chủ đầu tư phải lập thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở trước khi xin giấy phép xây dựng nhà ở. Diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở là tùy theo nhu cầu và khả năng tài chính của người dân, không bắt buộc phải chuyển toàn bộ thửa đất, nhưng phải phù hợp quy định về hạn mức đất ở.

Trường hợp thứ hai, nếu thửa đất ấy nằm trong khu vực không phù hợp với quy hoạch xây dựng là đất ở, nhưng khu vực ấy không còn khả năng làm nông nghiệp, trách nhiệm xét giải quyết thuộc về UBND quận, huyện. Địa phương cần trao đổi với Sở Tài nguyên - Môi trường trong việc lập hoặc điều chỉnh bổ sung vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (phù hợp theo kỳ của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) để làm cơ sở giải quyết thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, từ đó xem xét cấp giấy phép xây dựng tạm cho người dân theo đúng quy định hiện hành.

DiaOcOnline.vn - Theo Sài Gòn Giải Phóng

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

111112- Nói sự thật không sợ mất lòng, mà có thể giải quyết bất đồng

Sau bảy mươi năm là nhà nghiên cứu độc lập, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu có được một gia tài tri thức có người ví với một viện nghiên cứu: hơn 3.000 tấm bản đồ cổ giá trị, 30 cuốn sách viết riêng và 40 cuốn viết chung. Ông nghiên cứu bốn lĩnh vực chính: địa bạ, địa chí, bản đồ, hoạt động công nghiệp cổ truyền Việt Nam. Đã nhận nhiều giải thưởng cao quý như Giải thưởng Trần Văn Giàu năm 2005, Giải thưởng Phan Chu Trinh năm 2008. Thành tựu của ông có thể ghi vào sách kỷ lục Việt Nam. Nhiều nghiên cứu của cụ là bằng chứng khoa học cho việc bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Tiếp chúng tôi trong nhà riêng là một cụ ông nhanh nhẹn và minh mẫn hơn nhiều so với tuổi.

Năm nay bước vào tuổi 92, ông còn tiếp tục công trình nghiên cứu nào nữa không?

Phải chốt lại chuyện nghiên cứu lịch sử Biển Đông, Hoàng Sa - Trường Sa. Nội dung này nằm trong nghiên cứu chung của tôi, nhưng là vấn đề thời sự, cần phải nghiên cứu sâu. Thật may mắn, không hiểu sao mà mình lại có được những tư liệu đến thế…

Sao lại không hiểu được! Đơn giản là vì ông đã lao động suốt cả một đời…

Nói thì đơn giản thế, nhưng rất phức tạp, phải bỏ ra nhiều công sức, nhiều thời gian và cả tài chính nữa. Tôi cảm thấy may mắn khi bước qua tuổi 90 rồi mà vẫn còn được phục vụ đất nước. Bây giờ đâm lao phải theo lao, phải giữ sức khỏe làm những việc đó. Trước đây, tôi nghiên cứu tổng quát lịch sử xã hội - dân tộc Việt Nam, rất cẩn thận, từng phần ruộng đất, sưu tập địa bạ của 200 năm nay, những tư liệu viết bằng chữ Hán, để biết đất nước biến chuyển như thế nào về đất đai. Nghiên cứu đất, tức là liên quan đến con người sống trên đó, thành ra là nghiên cứu lịch sử, địa lý. Phải có phần chứng minh, chính là các bản đồ người nước ngoài vẽ về đất nước mình, cả xưa và nay. Sưu tập bản đồ sẽ hiểu lịch sử tương đối chính xác hơn. Tôi không là người đam mê sưu tầm như cụ Vương Hồng Sển, mà sưu tầm những thứ liên quan đến nghiên cứu và nghiên cứu giải mã những tư liệu ấy.

Ông đã góp phần chứng minh sự thật về Biển Đông và chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào?

Đó là một công trình lớn, không riêng mình tôi có thể làm được. Có những người chuyên gia về luật pháp, lịch sử, chuyên về chữ Hán nghiên cứu, như các chuyên gia Nguyễn Nhã, Hoàng Việt, Phạm Quốc Quân… Phần của tôi nghiêng về tổng hợp một chút. Tư liệu, bản đồ, lịch sử của các nước, kể cả của tác giả Trung Quốc, phương Tây thế kỷ XVI-XIX đều xác nhận Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, không một ai nói rằng của Trung Quốc cả.

Trên mạng, có một số người nói, việc Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam, điều đó dứt khoát rõ ràng rồi, không có gì phải bàn cãi lôi thôi. Ông có nghe về những ý kiến đó không?

Có đấy, họ còn nói rằng “Cụ Đầu khỏi phải chứng minh rắc rối. Ai cũng biết Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam”. Nhưng tôi nghĩ mình phải đưa ra ánh sáng những chứng minh khoa học, đó là bổn phận. Các cơ quan báo chí, truyền thông cũng tới chỗ tôi, liên hệ để xin tư liệu, công bố với công chúng. Những tư liệu quan trọng, báo Nhân dân đã đăng hai trang lớn. Nhưng vấn đề này rất lớn và nhiều cách trình bày, không chỉ một vài bài báo là xong. Đó là một vấn đề khoa học, thời sự của quốc tế và của nước ta.

Theo ông, những tư liệu nào được cho là quý hiếm nhất?

Rất nhiều tư liệu cổ xưa tôi đoán là ngay cả các viện nghiên cứu cũng chưa chắc có, nên Nhà nước và hai Bộ (Ngoại giao và Công an) mới liên hệ với tôi. Nhưng tôi không như người sưu tầm cho rằng cái này quý, cái kia quý. Tôi là nhà nghiên cứu, giải mã, đọc được những tư liệu, bản đồ bằng nhiều thứ tiếng, trong nhiều giai đoạn khác nhau, để tìm ra nguồn gốc từ đâu mà có những tên gọi đó.

Ông có cách nào cho nhiều người hiểu một cách chân thực những sự thật mà mình đã dành cả đời để chứng minh hay không? Đặc biệt khi đó là một chuyện quan trọng của đất nước?

Tôi rất muốn điều đó. Nhiều người hiểu chung chung, rằng Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam, nhưng tôi có thể góp phần chứng minh được. Tôi từng gặp nhiều trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo viên… và nhận thấy rằng họ không nắm được các chi tiết cụ thể của vấn đề. Như vậy là phiến diện. Ai cũng kêu là năm nào thi cử, điểm môn lịch sử cũng kém nhất. Tôi nghĩ rằng những gì về đất nước mình, lịch sử, địa lý, văn hóa, đời sống xã hội Việt Nam, đã không được trình bày một cách tổng quát, đầy đủ trong chương trình giáo khoa mười hai năm. Cả thầy lẫn trò đều ít quan tâm đến vấn đề lịch sử. Chúng ta muốn người dân quan tâm đến điều gì thì phải phổ biến rộng rãi kiến thức cho họ.

Nhưng thưa ông, có nhiều nghiên cứu khá khó hiểu, toàn là tư liệu, ký hiệu, ngôn ngữ cổ, đâu phải dễ nắm…
Những điều chị cho rằng khó, tôi cho là dễ. Người không quan tâm thì bao giờ cũng cho là khó cả.

Vậy xin ông cho vài câu dễ hiểu, dễ thuộc để trang bị cho một người rất bình thường như tôi có thể hiểu được.

Nếu thế, tôi chỉ cần đưa cho chị xem vài tấm bản đồ do người Trung Hoa xưa vẽ, một vài tấm do người Việt Nam vẽ, và vài bản đồ do người phương Tây vẽ về Biển Đông, Hoàng Sa - Trường Sa. Thế thôi. Cho người ta thấy rằng từ xưa, người Việt Nam chịu trách nhiệm ở Biển Đông cả về phương diện an ninh lẫn xã hội. Hằng năm gió mùa Đông - Tây, thuyền bè gặp nạn trôi dạt vào. Triều đình Việt Nam thời xưa đã giúp những người trôi dạt vào Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ Biển Đông từ xa xưa.

Như vậy, chỉ riêng bản đồ đã nói được khá nhiều và khá dễ, phải không thưa ông?

Chúng ta ngồi ở đây, bên cạnh một ngã tư, tôi mời chị nhìn xuống xem những người nước ngoài đang đi qua cửa. Họ đều cầm bản đồ, tìm đường đi, phải không? Việt Nam có bao nhiêu thành phố có bản đồ?

Thưa ông, bây giờ, phục vụ cho du lịch, nhiều nơi cũng có bản đồ rồi.

Nghĩa là vẫn để phục vụ du khách là chính. Người Việt rất ít sử dụng bản đồ.

Họ theo thói quen: đường ở miệng...

Sách giáo khoa cũng rất ít bản đồ. Trên báo chí cũng vậy. Có sự kiện mới xảy ra ở một xứ lạ, xưa nay ít biết, phải có bản đồ hướng dẫn cho người đọc biết, chẳng hạn nước Libya nằm ở đâu. Chúng ta phải góp phần xây dựng thói quen văn minh, khoa học. Nước mình ít dùng, cho đến giờ việc thực hiện thói quen ấy rất khó khăn. Tôi rất muốn phổ biến những tấm bản đồ.

Đơn giản vậy mà không có cách nào sao?

Phải là chính sách của những người làm văn hóa. Chính phủ phải quan tâm, ngành giáo dục phải quan tâm, các nhà báo phải quan tâm.

Sao phải chờ những thứ to tát, khó khăn ấy? Chúng ta cứ thử in cuốn bản đồ nhỏ cầm tay, để bất cứ ai cũng có thể chứng minh những vấn đề chủ quyền biển đảo một cách dễ dàng, đầy tính thuyết phục khoa học?

Nói kinh nghiệm nhé: Tôi có lần làm rồi và lỗ vốn. Ít ai quan tâm! Hồi kỷ niệm Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh 300 năm, tôi là người đầu tiên cung cấp bản đồ về lịch sử biến chuyển vùng đất của Sài Gòn 300 năm, nhưng không bán được. Dường như người ta chỉ quan tâm đến những vấn đề trước mắt. Lĩnh vực lịch sử chúng ta cũng chỉ đầu tư nghiên cứu về chiến tranh chống Pháp, Mỹ, thời kỳ bảo vệ đất nước hơn là về thời kỳ dựng nước. Thí dụ triều Nguyễn rất có công xây dựng đất nước, nhưng chưa được ghi nhận tương xứng. Có lẽ vì vấn đề gần chúng ta hơn cả là công cuộc bảo vệ đất nước, nên người ta cứ tập trung vào. Nói không khéo sẽ quên mất lịch sử xây dựng đất nước, chỉ thấy công bảo vệ mà thôi. Trình bày nhầm như vậy, không thấm vào tâm hồn người Việt Nam một cách đầy đủ nên càng ngày lịch sử càng bị lơ là. Cuối đời rồi, tôi thấy có những chuyện quan trọng không thể lơ là được, như chuyện phải tranh đấu cho Hoàng Sa - Trường Sa.

Ông có hài lòng về những gì vừa qua ông đã đóng góp cho đất nước thông qua những công trình nghiên cứu của mình hay chưa? Ông muốn được mọi người hưởng ứng như thế nào?

Theo tôi thấy, các vị lãnh đạo thì nghĩ đường lối lớn, báo chí thì tích cực trong khả năng tuyên truyền của mình, phải làm cho sự hiểu biết trong công chúng rộng rãi hơn nữa. Tôi muốn hỏi tại sao nhiều nhà văn như chị lại ít nói đến vấn đề này?

Thú thật với ông là giới văn chương, theo tôi thiết nghĩ, có lẽ chưa hiểu biết nhiều lĩnh vực, sợ nói không thấu đáo những việc nhạy cảm thì hiệu quả không cao. Họ mới chỉ biểu lộ lòng nhiệt thành yêu nước. Muốn chuyển hóa thành hình tượng văn học thường phải có thời gian…

Phải tìm hiểu, lặng im là không được. Phải làm cho giới trẻ hiểu biết, chứ tự nhiên không ai hiểu biết ngay được. Nếu muốn có sự hiểu biết một cách khoa học thì phải phổ biến rộng khắp chứ tại sao lại không làm? Phải thật thà, trung thực. Nói sự thật không thể mất lòng ai…

Thưa ông, người ta vẫn sợ có câu “sự thật mất lòng”…

Sự thật chỉ có thể giải quyết được bất đồng. Không sợ mất lòng.

Nghe nói ông đang tìm người để kế tục sự nghiệp. Ông đã tìm được chưa?

Có nhiều người hỏi, nhiều cơ quan đến tiếp xúc với tôi. Tôi đã bắt đầu giao một phần tư liệu cho Trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, kể cả việc sao chụp bản đồ. Nhưng như tôi đã nói, tôi không phải là nhà sưu tầm, không cần nơi bảo quản những đồ sưu tầm, mà là nhà nghiên cứu. Nên tôi cần tìm người tiếp tục việc nghiên cứu những tư liệu của tôi còn nghiên cứu dở dang. Cho đến nay, chỉ thấy những người muốn gìn giữ tư liệu ấy, chưa thấy một ai tha thiết chuyện nghiên cứu. Nghĩa là tôi vẫn chưa tìm được người kế nghiệp mình.

Theo tôi được biết có rất nhiều người theo các ngành học liên quan mà, thưa ông?

Đúng là tôi có tiếp xúc nhiều người làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ nhờ tôi giúp đỡ tư liệu, cho ý kiến, nhưng xong là thôi, họ không tiếp tục nghiên cứu nữa. Tôi chưa tìm được ai. Hơi buồn một chút.

Khó thật vậy sao?

Khó. Có lẽ vì họ không thấy mối lợi kinh tế nào trước mắt.

Nhưng còn các viện nghiên cứu khoa học về xã hội, lịch sử? Đó là những nội dung công việc của họ mà?

Không có nhiều sự quan tâm từ các đơn vị này. Chắc chị biết có Hội Sử học, có nhiều người giỏi chuyên môn. Các trường đại học cũng có khoa chuyên môn, ở TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế đều có cả. Tôi cũng biết có giáo sư nghiên cứu những vấn đề tôi và chị đang nói với nhau đây. Thực tế, trên mạng, ở các tòa soạn báo, các Viện nghiên cứu Khoa học xã hội, Viện Sử, Viện Địa lý, Hội Lịch sử Việt Nam… đều nghiên cứu, nhưng có lẽ đều thiếu mảng tư liệu và nghiên cứu như tôi. Tôi thiết nghĩ vì vậy Nhà nước mới gọi đến tôi. Tôi nhận định vậy thôi, chị muốn thì thử tìm hiểu thêm.

Thưa ông, làm một nhà nghiên cứu độc lập suốt cả đời, ngoài chuyện tiền bạc tốn kém mà lại khó kiếm tiền, thì khó khăn nhất ông phải trải qua là gì?

Thứ nhất là cái ham mê chân lý phải vượt lên trên hết. Ham mê sự thật, ham mê hiểu biết. Buổi ban đầu, tôi đâu biết nhiều vấn đề, đâu có nhiều tài liệu. Bản đồ một vài cái chứng minh. Đồ cổ để biết thời xưa ăn uống thế nào. Lịch sử cũng chỉ là đọc qua những quyển sách bình thường ai cũng có. Sau vì ham mê, nên tôi đi tìm kiếm tư liệu khắp trong nước, chợ trời. Số đồ gốm, bản đồ tăng lên. Chi tiêu cho cuộc sống phải tiết kiệm, giản dị, dành phần cho tư liệu và nghiên cứu. Dần dần mới thành nhà nghiên cứu lúc nào không biết.

Nay có thể “xếp hạng” ông là nhà nghiên cứu tầm cỡ…

Không cỡ gì. Nhưng tôi tự biết mình không mặc cảm khi thảo luận và tiếp xúc với giới nghiên cứu các nước. Tôi có dịp làm nhà khoa học nho nhỏ tiếp xúc với các nhà khoa học thế giới - Nhật, Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Anh, Úc…, để thảo luận các vấn đề và tư liệu mình có giá trị đáng chú ý. Tôi là một nhà nghiên cứu tay ngang, vẫn khiêm tốn rằng còn nhiều điều mình chưa biết, nhưng vẫn trao đổi được với những nhà nghiên cứu có chuyên môn sâu về lịch sử, địa lý Việt Nam và nước ngoài.

Giới nghiên cứu nước ngoài có người từng phát biểu là họ đi khắp nơi, chưa gặp ai như ông. Câu chuyện thế nào, thưa ông?

Họ nói quá đáng chăng! Năm ngoái có hai nhà khoa học có tiếng, chuyên về bản đồ của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, đến thăm tôi. Chúng tôi cùng thảo luận các vấn đề bản đồ lịch sử Việt Nam xưa và nay. Hai người đó đi Huế, Hà Nội, qua Lào, Campuchia, rồi quay lại lần thứ hai. Và họ nói câu chị vừa nhắc...

Trong cuộc đời nghiên cứu của mình, hẳn ông phải gặp những tình huống khó khăn?

Có những thời kỳ, tôi gặp phải sự không hiểu của chính quyền sở tại. Họ đi hỏi dò người quen biết, hỏi nhà báo, rằng một tấm bản đồ dùng để làm gì, có hại cho an ninh hay không, tôi lấy ở đâu ra những bản đồ đó... Rồi không biết họ lấy tin từ đâu rằng ông Đầu bán bản đồ cho nước ngoài tới hai triệu đô. Với các nhà khoa học độc lập, không thuộc một cơ quan nào như tôi, những chuyện như vậy rất đáng ngại. Nếu không có một bề dày suốt đời tha thiết với dân tộc, nhiều người sẽ buông xuôi. May mà tôi sống lâu đến lúc được hiểu, được đóng góp cho đất nước. Chứ nếu chẳng may qua đời trước, thì tư liệu, giấy tờ, sự hiểu biết tìm tòi của một người công dân đổ xuống sông hết. May mắn nữa là ba năm trở lại đây, Nhà nước chính thức biết đến công trình của tôi. Tôi sẵn sàng đóng góp.

Thế còn niềm sung sướng nhất của một nhà nghiên cứu?

Là góp phần tìm hiểu chân lý, được hiểu chân lý, sự thật. Và được nói lên những sự thật ấy. Thí dụ như đang được nói những chuyện đó với chị đây này. Tôi lại có hạnh phúc nữa là, nhiều anh bạn tôi, mới tám mươi trí khôn đã hơi lẫn, còn tôi, không hiểu tôi nói chuyện với chị nãy giờ hơn hai tiếng đồng hồ, chị có thấy tôi có gì lẫn không? Đó là hạnh phúc trời cho.

Cũng có công rèn luyện nữa chứ?

Có nhiều người hỏi tôi có bí thuật gì không, tôi nói rằng chỉ giữ sức khỏe một cách bình thường, giống như công việc nghiên cứu, không ngày nào không quan tâm. Sống đơn giản. Sáng ăn bánh mì, cà phê nhiều sữa, hai bữa bình thường, thích mắm, gu hơi nặng.

Ông có gặp phải bệnh tật nào đáng lo chưa?

Bệnh đặc biệt như mổ xẻ thì không có. Thỉnh thoảng đang ngồi nói chuyện bị té vì máu lên não không kịp. Có lẽ là một dạng của bệnh tim mạch.

Nếu ông chưa mệt, xin hỏi thêm ít câu cuối: Vì sao ông không viết hồi ký cuộc đời một nhà nghiên cứu độc lập?
Tôi mê hội họa và đọc sách, đặc biệt là tự truyện như của Washington, Gandhi, Churchill, cụ Hồ, các nhà văn và chính khách lớn. Bởi chúng thực. Từ bé, tôi đã nghĩ hai hướng trong một người sống đời tích cực: một là những người chuẩn bị để làm nhà lãnh đạo trong mọi lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, hai là chuẩn bị thành người tích cực sống ở cơ sở - militant de base. Lựa chọn của tôi là chiến sĩ ở cơ sở. Từ bé, được tiếp xúc với môi trường xã hội văn hóa tôn giáo rất phong phú, tiếp xúc các nhân vật bên này bên kia, tôi vẫn giữ được ý nguyện làm con người cơ sở. Những việc nghiên cứu địa bạ, bản đồ, sách cổ, gốm… là cơ sở. Không có hướng viết tự truyện, nhưng không có nghĩa là không viết ra những sự kiện, con người mà tôi được tham gia, tiếp xúc.

Những người có cuộc đời hay như ông, không viết ra, mai này đem về với tổ tiên, vậy là có “khuyết điểm”. Ông có công nhận như vậy không?

Cũng có nhà văn đề nghị được nghe chuyện tôi kể để viết, nhưng tôi xin cảm ơn. Thỉnh thoảng tôi có viết lại một vài điều mình chứng kiến cho dễ hiểu, cho sáng sủa, không phải tiểu sử mình, chắc chị có đọc?

Vâng, thưa có. Xin cảm ơn ông đã dành cho một cuộc trò chuyện dài…

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần.

nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-11-12-noi-su-that-khong-so-mat-long-ma-co-the-giai-quyet-bat-dong

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

110711- Nhà chưa có giấy chủ quyền: Vẫn cấp phép xây dựng

Sở Xây dựng TP.HCM vừa hướng dẫn thủ tục xin cấp phép xây dựng (CPXD) đối với nhà riêng lẻ trên địa bàn TP.HCM theo quyết định 68 của UBND TP. Ông Quách Hồng Tuyến - phó giám đốc Sở Xây dựng TP - cho biết:

- Theo quy định mới, nhà ở riêng lẻ không có các loại giấy tờ về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất (gọi chung là giấy chủ quyền), nằm trong khu dân cư hiện hữu, ổn định, sử dụng trước ngày 1-7-2004 (ngày Luật xây dựng có hiệu lực) và phù hợp quy hoạch là đất ở vẫn được CPXD.

Như vậy so với quy định trước đây (nhà phải có giấy chủ quyền hoặc các loại giấy tờ hợp lệ khác theo quy định) thì quy định mới mở rộng thêm cho nhiều đối tượng được CPXD hơn.

Tuy nhiên chủ đầu tư phải có giấy cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về ranh giới thửa đất đang sử dụng (kể cả phần tường chung với các nhà liền kề nếu có) không có tranh chấp, khiếu nại và phải được UBND phường xã, nơi có công trình xây dựng xác nhận. Trường hợp người dân có nhu cầu xây dựng nhà trên ranh đất lớn hơn ranh hiện trạng nhà cũ, hoặc thay đổi vị trí khác phải xin cấp giấy chủ quyền trước khi xin CPXD.

Hồ sơ cấp giấy phép xây dựng gồm đơn đề nghị (một bản chính), bản sao có chứng thực giấy chủ quyền nhà đất. Trường hợp bản sao không có chứng thực thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm đối chiếu với bản chính, ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính.

* Nhiều trường hợp diện tích nhà ở trên thực tế lớn hơn diện tích ghi trên giấy chủ quyền. Vậy khi xin phép xây dựng nhà mới theo diện tích sử dụng thực tế thì có được xem xét?

- Nhà ở đã được CPXD, sau khi phá dỡ mà hiện trạng cũ có diện tích đất xây dựng lớn hơn diện tích ghi trong giấy chủ quyền thì người dân phải chứng minh được phần nhà, đất đó không có tranh chấp, khiếu nại.

Người dân phải chứng minh bằng giấy tờ pháp lý hoặc có sự thỏa thuận của các hộ liền kề (có liên quan) và có xác nhận chữ ký của UBND phường xã. Sau đó UBND quận huyện kiểm tra, xác nhận phần diện tích đất mở rộng đó có lấn chiếm đất công hay không.

Nếu không có tranh chấp, khiếu nại, không lấn chiếm đất công và phù hợp quy hoạch thì cơ quan chức năng xem xét điều chỉnh giấy phép xây dựng theo diện tích sử dụng thực tế.

* Những thay đổi nào về công trình buộc phải xin điều chỉnh giấy phép?

- Khi muốn điều chỉnh thiết kế xây dựng nhà ở khác với nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp như: vị trí xây dựng công trình, cao độ nền xây dựng công trình; các chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng; diện tích xây dựng; tổng diện tích sàn; chiều cao công trình; số tầng và những nội dung khác được ghi trong giấy phép xây dựng thì chủ nhà phải xin điều chỉnh giấy phép xây dựng trước khi thi công. Những thay đổi khác không phải xin điều chỉnh giấy phép xây dựng đã cấp.

Trong vòng 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng mà công trình chưa đủ điều kiện khởi công theo quy định, chủ đầu tư phải xin gia hạn giấy phép xây dựng.

* Theo quy định, những công trình xây dựng thuộc dạng nào không phải xin phép UBND quận huyện mà chỉ cần đăng ký tại UBND phường xã?

- UBND phường xã, thị trấn tiếp nhận hồ sơ đăng ký xây dựng, sửa chữa, cải tạo và thông báo ngày khởi công xây dựng đối với những công trình mà theo quy định không phải xin giấy phép xây dựng như: công trình tạm phục vụ thi công cho công trình chính; công trình nâng nền, nâng gác, nâng mái; xây dựng lại tường bao che bị hư hỏng theo nguyên trạng; công trình gia cố, cải tạo chống nghiêng, lún, nứt không làm thay đổi quy mô diện tích, không ảnh hưởng đến kết cấu...

Nhà ở riêng lẻ (kể cả nhà ở riêng lẻ thuộc các trục, tuyến đường phố chính trong đô thị) thuộc thẩm quyền CPXD của UBND các quận huyện. Nhà ở riêng lẻ ở những điểm dân cư nông thôn (đã có quy hoạch xây dựng được duyệt, những điểm dân cư theo quy định của UBND quận huyện phải CPXD) do UBND xã CPXD.

Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện CPXD thì cơ quan chức năng có văn bản hướng dẫn trong thời hạn 10 ngày làm việc. Đối với nhà ở riêng lẻ thời gian CPXD là 15 ngày làm việc, nhà ở nông thôn là 10 ngày làm việc. Chủ đầu tư phải thông báo bằng văn bản việc khởi công xây dựng công trình cho UBND phường xã, thị trấn trong thời hạn bảy ngày, trước khi khởi công xây dựng.

* Hiện ba tuyến đường: đại lộ Võ Văn Kiệt, xa lộ Hà Nội và tuyến Bình Lợi - Tân Sơn Nhất - Vành đai ngoài đang nghiên cứu thiết kế đô thị. Nhà hộ dân ở các tuyến đường này muốn xin phép xây dựng được giải quyết ra sao?

- Hiện UBND TP đã giao Sở Quy hoạch - kiến trúc nghiên cứu lập quy chế quản lý kiến trúc đô thị dọc các tuyến đường trên để làm cơ sở giải quyết CPXD và quản lý xây dựng. Do vậy trước mắt các công trình xin phép xây dựng dọc các tuyến đường này phải có ý kiến về chỉ tiêu kiến trúc - quy hoạch của Sở Quy hoạch - kiến trúc TP.

PHÚC HUY thực hiện

nguồn: http://diaoc.tuoitre.vn/Index.aspx?ArticleID=446064&ChannelID=204