Hiển thị các bài đăng có nhãn dângian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dângian. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Nguồn gốc bộ Bài Chòi

Nghe vẻ nghe ve/ Nghe vè bài tới/ Cơm chưa kịp xới/ Trầu chưa kịp têm...

Tao đánh ba đêm

Thua ba tiền rưỡi

Về nhà chồng chửi

“Thằng Móc, thằng Quăn

Đánh sao không ăn

Mà thua lắm bấy?”

Tui lấy tiền cấy cho đủ mười ngày

Bảy Thưa, Bảy Dày

Cũng là ngạt kéo

Chị em khéo léo

Dễ mượn dễ vay...

(...)

Ăn thì tui vùa

Thua thì tui chịu

Bài Tới và bài Chòi

Bạch Tuyết - Thái Tử - Ông Ầm

Các dị bản của bài vè Bài tới trên đây phổ biến từ Bình Trị Thiên cho đến Nam bộ. Điều này đã chỉ ra không gian lưu hành của trò chơi đánh Bài Tới. Một thực tế cũng đáng lưu ý là mặc dù Bài Tới phổ biến khắp Nam Trung như vậy, nhưng Bài Chòi lại không phổ biến ở Nam bộ.

Điều này chỉ ra rằng Bài Chòi là trò chơi xuất hiện muộn mằn, bởi vì nếu Bài Chòi xuất hiện từ thế thế kỷ 17-18 thì nó đã theo chân lưu dân Thuận Quảng vào vùng đất phương Nam như Bài Tới, Hát Bội, Hát Sắc Bùa... Các sự kiện trên đã xác lập cái khung không gian - thời gian của Bài Chòi để làm cơ sở cho việc truy nguyên căn cội của bộ Bài Chòi - cũng là bộ bài dùng để chơi Bài Tới.

Yêu

Bài tới, theo định nghĩa của Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quấc âm tự vị (1896, T. II, tr 455), là “thứ bài bắt cặp, ai bắt được đủ cặp trước thì gọi là tới, nghĩa là đến trước, rồi cũng được ăn tiền”. Chúng ta không có cứ liệu nào để xác định thời điểm ra đời của bài tới, nhưng trò chơi bài bạc này trong bối cảnh phong hóa cộng đồng cũng đã phát triển theo qui luật trình thức hóa và công cộng hóa để thành Bài Chòi.

Từ cờ tướng với hai người chơi đã tích hợp nhiều yếu tố trình diễn biến thành trò chơi Cờ Bỏi, Cờ Người diễn ra ở sân đình chùa, những nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội của cộng đồng nói chung. Đây là một ví dụ. Từ bài Tổ Tôm, bài Tam Cúc biến thành Tổ Tôm điếm là những ví dụ khác. Ở đây, bài tới đã tích hợp với ca nhạc, với chòi/điếm với rạp/sân khấu... để trở thành trò chơi Bài Chòi hấp dẫn. Bài Chòi phát triển mạnh đến mức lấn át danh tiếng và cách chơi khác nhiều so với Bài Tới, nhưng về bộ bài để chơi Bài Chòi lại là bộ Bài Tới - không đổi thay gì.

Bài Tới - Bài Chòi - Tổ Tôm

Bộ Bài Tới/ Bài Chòi có 60 con bài, chia làm ba pho (văn, vạn, sách), mỗi pho có chín cặp và ba cặp Yêu: Ông Ầm, Thái Tử, Bạch Tuyết. Tùy từng địa phương, các con bài được gọi khác nhau. Con bài làm bằng giấy bồi, hình chữ nhật (2x8,5cm), in một mặt (mộc bản) đồ án biểu trưng cho con bài và lưng phết màu đỏ sẫm.

Do sự giống nhau của bộ Bài Chòi (từ đây hiểu là Bài Tới) và bộ bài Tổ Tôm ở chỗ cả hai loại bài đều chia làm ba pho Văn, Vạn, Sách và ba con bài Yêu nên không ít nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ nguồn gốc của Bài Chòi với bài Tổ Tôm. Thật ra đồ hình của các con bài tương ứng giữa Bài Chòi và bài Tổ Tôm có nhiều khác biệt: bài Tổ Tôm vẽ đa số 26/30 là hình người Nhật Bản (đầu, mình, tứ chi, dụng cụ cầm tay, vác vai và thêm vào đó là hình tháp (con Ngũ Vạn), cá (con Bát Vạn), trái đào (con Nhị Vạn), thuyền buồm (con Ngũ Sách).

Còn ở bộ Bài Chòi/Bài Tới thì đồ án trang trí mang tính trừu tượng và hình người trừu tượng, chủ yếu là bán thân hay mặt người (chiếm 11/30 con bài). Dù vết của con bài Tổ Tôm ở bộ Bài Chòi/Bài Tới là các biểu tượng và chữ Hán xác định số thứ tự của con bài.

- Chữ Hán: từ chữ Nhất đến chữ Cửu trên chín con bài của pho Vạn; và các chữ ghi tên ba con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử và Bạch Huê (Bạch Tuyết).

- Biểu trưng có hai loại: 1/ Hình tròn nhỏ có chấm ở giữa  (tạm gọi là “nút”, hiểu là nút chỉ số điểm của mặt súc sắc/cũng có thể hiểu là đồng tiền điếu) và hình tượng đồng tiền điếu  (hoặc một đồng nguyên/tròn giữa vuông hay một nửa đồng tiền/bán nguyệt)

- Biểu tượng “phức nghĩa”, đặc biệt là các đồ hình trên chín con bài của pho Sách là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và theo đó có những biện giải khác nhau. Chẳng hạn như con bài Nọc đượng (có tên gọi khác: Nọc thược, Nhất nọc), được gán cho hình vẽ dương vật và cho rằng nó có nguồn gốc từ Linga của người Chăm. Theo đó, con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) lại được coi là âm vật, Yoni (Chăm).

Thế là từ cặp Yoni - Linga ấy, một số nhà nghiên cứu cho rằng Bài Chòi có gốc gác chi đó với người Chăm, văn hóa Chăm! Thậm chí từ đồ hình tên con bài Ba Gà, người ta đẩy nó về với hình khắc trên trống đồng Đông Sơn... Các biện giải uyên bác quá mức này chủ yếu dựa vào sự diễn dịch chủ quan và sự đối chiếu có tính chất liên tưởng mông lung. Thật ra, cách gọi tên con bài của bộ Bài Chòi/Bài Tới của dân gian là phương “coi mặt, đặt tên” - tức dựa trên hình tướng đặc trưng nào đó của hình họa mà gọi tên. Và như vậy, trực quan là có thể phân biệt các con bài.

Khi xưa, chưa có chữ quốc ngữ Latin, chữ Hán - Nôm cũng không phổ cập, người bình dân không phải ai cũng đọc được chữ Hán - Nôm in trên con bài, thì các biểu tượng “nút” và “đồng tiền điếu” có chức năng chỉ số (nhất đến cửu) cho các con bài pho Văn và pho Sách. Ví dụ: Chín gối (hình 9 nút), Hai tiền (hình 2 đồng tiền), Nọc đượng (1 nút), Nhì nghèo (2 nút), Ba gà (3 nút), Tứ gióng (4 nút)... Đó là các ký hiệu cơ bản để phân biệt các con bài của bộ Bài Chòi/Bài Tới.

Còn đồ hình ở pho Sách là hình vẽ các chồng/xâu tiền điếu cộng với dải uốn cong như hình con rắn thật ra để chỉ rõ chúng thuộc pho Sách. Sách, chữ Hán có nghĩa là dây. Hình vẽ Sách/Dây này là một trong các bằng chứng tương đối rõ ràng nhất mối quan hệ giữa Bài Chòi/Bài Tới với Tổ Tôm. Người chơi Tổ Tôm bình dân không đọc được chữ Hán, ai cũng thuộc câu “Vạn vuông, văn chéo, sách lằng ngoằng”.

Một bằng chứng khác là con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) của Bài Chòi/Bài Tới tương ứng với con bài Thang Thang của bài Tổ Tôm và tên gọi Bạch Huê (Bạch Tuyết) có lẽ bắt nguồn từ hình vẽ trên con Thang Thang là người phụ nữ cho con bú: để lộ “nhũ huê” trắng bóc! Nói cách khác, đặc điểm “gợi cảm” nhất của hình vẽ trên con Thang Thang đã được dân chơi bài... gọi một cách trắng trợn là Bạch Huê (Bạch Tuyết) không liên hệ gì đến cái Yoni thiêng liêng của người Chăm.

Nói chung, tuy có một số điểm tương đồng giữa bộ Bài Chòi/ Bài Tới và bộ bài Tổ Tôm, song muốn tường tận hơn thì phải đối chiếu với các loại bài giấy (chỉ bài) khác, đặc biệt là các loại bài gốc từ Diệp tử mã điếu của Trung Quốc.

Diệp tử mã điếu và toàn đối (Đông Quan bài)

1. Hình thức cờ bạc phổ biến nhất ở Trung Quốc thời cổ là gieo súc sắc. Ngoài súc sắc, hình thức cờ bạc tương đối quan trọng khác là bài xương, ra đời vào niên hiệu Tuyên Hòa thời Bắc Tống. Bài xương (hoặc ngà) biến thái từ súc sắc, trên mặt mỗi con bài là do hai mặt súc sắc kết hợp lại thành các con bài có điểm (nút) lớn nhỏ khác nhau. Đó là cội nguồn của các hình nút (hình tròn nhỏ có chấm ở giữa) trên một số con bài của bộ Bài Chòi/Bài Tới đã nói ở phần trên.

Ngoài bài xương/bài ngà, ở Trung Quốc còn phổ biến bài giấy. Thời cổ gọi là Diệp tử (xuất hiện từ thời Đường), đến đời Minh, Thanh trò chơi bài lá này đặc biệt thịnh hành. Diệp tử có hai loại: 1/ Diệp tử in theo điểm số của bài xương in ra, ở giữa in một số hình tượng nhân vật trong Hí khúc hoặc Thủy hử (đây là thứ phiên bản của bài xương, nhưng nhờ đổi từ xương sang giấy nên phổ biến rộng rãi hơn bài xương vì dễ chế tác, giá thành thấp); 2/ Loại thứ hai là loại bài Mã điếu diệp tử: làm bằng giấy, rộng 1 tấc, dài 3 tấc (tấc # 3cm) dùng nhiều lớp giấy bồi rồi in lên. Loại bài này có 40 lá, hoa sắc/hình họa chia làm bốn môn/pho:

- Thập tự (chữ “Thập”) có 11 lá, trên mỗi lá vẽ hình nhân vật trong Thủy hử: Tống Giang (lá Tôn Vạn Vạn quan), Võ Tòng (lá Thiên Vạn), Nguyễn Tiểu Ngũ (Bách Vạn), Nguyễn Tiểu Thất (Cửu Thập), Chu Đồng (Bát Thập)... Hổ Tam Nương (Nhị Thập).

- Vạn tự (chữ “Vạn”) có chín lá, trên mỗi lá cũng vẽ hình các nhân vật trong Thủy hử: Lôi Hoành (lá Tôn cửu vạn quan), Sách Siêu (Bát vạn), Tần Minh (Thất vạn), Sử Tiến (Lục vạn), Lý Tuấn (Ngũ vạn), Sài Tiến (Tứ vạn), Quan Thắng (Tam vạn), Hoa Vinh (Nhị vạn), Yến Thanh (Nhất vạn).

- Sách tự (chữ “Sách”) có chín lá, trên mỗi lá vẽ quan tiền: Lá Tôn Cửu sách (vẽ 4 chồng, mỗi chồng 2 quan, một quan nằm riêng), lá Bát sách (vẽ 4 chồng, mỗi chồng 2 quan), lá Thất sách (vẽ 3 chồng mỗi chồng 2 quan, một quan nằm riêng), lá Lục sách (như 2 cây cầu trên bộ dưới nước), lá Ngũ sách (hình như quẻ Cấn), lá Tứ sách (hình như 2 vòng ngọc), lá Tam sách (hình như chữ “phẩm”), lá Nhị sách (hình như “quẻ Chấn”?), lá Nhất sách (hình như “cái chĩa”).

- Văn tiền có 11 lá, phía trên vẽ các loại đồ hình: lá Tôn không một văn (vẽ hình “Ba tư tiến bảo”), lá Bán văn (hình hoa quả), lá Nhất tiền (hình như Thái cực), lá Nhị tiền (hình trống “yêu cổ”), lá Tam tiền (hình quẻ Càn), lá Tứ tiền (vẽ hình như vòng móc vào nhau), lá Ngũ tiền (vẽ hình Ngũ nhạc: 5 ngọn núi lớn), lá Lục tiền (vẽ hình như quẻ Khôn), lá Thất tiền (vẽ hình như chòm sao Bắc đẩu), lá Bát tiền (vẽ hình “Ngọc côi”), lá Cửu tiền (vẽ hình ba ngọn núi chồng lên nhau).

Bài Mã điếu lưu hành từ niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, đến đời nhà Thanh biến đổi thành bài Mặc Hòa, chỉ còn lại 3 môn/pho là Vạn tự, Sách tự và Văn tiền. Cách đánh bài: 4 người một sòng, mỗi người rút 10 lá bài, tổ hợp 3, 4 lá cùng pho làm một bộ (hiểu là ghép từ 3 lá trở lên của các con bài cùng một pho, giống như “phu dọc” trong chơi tổ tôm; hoặc giống như “sảnh” trong chơi xập xám hay phé/bài tây), hoặc tổ hợp giống như “phu bí” trong chơi tổ tôm, tức ghép 3 lá cùng số (nhất, nhị... cửu) thuộc cả 3 pho. Người tổ hợp đủ ba bộ/phu là thắng.

Ngoài bài Mặc Hòa còn có các loại biến thể khác như Đấu Hổ, Chỉ Trương.

- Đấu hổ: Dùng 30 lá bài của Mã Điếu, bỏ đi 9 lá thuộc pho Thập tự, chỉ lưu lại lá Thiên Vạn (hình Võ Tòng).

- Chỉ trương là bài giấy mạt chược, hình thành từ cơ sở bài Mã Điếu, cũng bảo lưu 3 pho Vạn, Sách, Tiền nhưng đổi: Sách làm Điều, Tiền làm Bính; và cũng đổi tên một số lá bài.

Những dữ liệu về loại bài Diệp tử mã điếu đã chỉ ra mối quan hệ của loại bài này với bài Tổ Tôm và Bài Chòi/Bài Tới, đặc biệt là các biến thể của Diệp tử mã điếu là các loại bài Mặc hòa, Đấu hổ, Chỉ trương có số lá con bài, cơ cấu ba môn/pho Văn, Vạn, Sách và đồ hình tương đồng về phần “lý” với bộ Bài Chòi/Bài Tới của xứ ta.

2. Đông Quan bài, còn gọi là bài Toàn đối, vốn xuất xứ và phổ biến ở quận Đông Quan (Quảng Đông, Trung Quốc). Bộ bài này gồm 120 lá bài (30 quân bài x 4), cũng chia làm 3 pho văn, vạn, sách (mỗi pho 9 quân bài) và ba con bài lẻ/đặc biệt: Đại hồng, Tiểu hồng và Bát xuyến. Các quân bài thuộc ba pho đều mang số từ 1 đến 9. Hình họa pho văn và pho sách cũng dùng hình quan tiền và nút làm biểu tượng chỉ số điểm. Riêng pho vạn vẽ hình nhân vật, trên mỗi lá bài có ghi số điểm bằng chữ Hán (Nhất, Nhị, Tam... Cửu). Cách chơi bài Toàn Đối tuy có khác ở chỗ tích hợp “đối” (đôi) và “cạ” (cùng số khác pho), song đại thể rất giống cách chơi Bài Tới.

Bài Tới/Bài Chòi

Đông Quan bài

Văn

Vạn

Sách

Nhận xét và kết luận

1. Về mặt đồ hình, mối quan hệ của Bài Chòi/Bài Tới với loại bài Diệp tử mã điếu và đặc biệt là bài Đông Quan (Toàn Đối) là rõ ràng hơn và trực tiếp hơn so với bài Tổ Tôm.

- Biểu tượng nút (vòng tròn có chấm ở giữa) trên các con bài Chín Gối, Nọc đượng, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ gióng, Năm dày, Sáu hột, Bảy sưa, Tám giây, Đỏ mỏ... vốn là ký hiệu số điểm của hột súc sắc.

- Biểu tượng tiền điếu (nguyên đồng hay một nửa đồng tiền điếu) trên các con bài Trường hai, Trường ba, Tứ tượng (Voi/Dái voi), Ngũ rún, Sáu tiền, Bảy liễu (4 nửa đồng tiền + 2 nút + 1 vòng xoáy trôn ốc), Tám tiền, Chín cu (Xe/Chín gan: 6 nửa đồng tiền + 3 nút)... vốn là hình họa các quan tiền thấy trong pho “Sách tự” của Diệp tử mã điếu và bài Toàn Đối.

- Các hình họa đa dạng với các hình ngang ngắn (giống cái xúc xích hay bó bánh tét...) tạo nên các hình tướng khác nhau của các con bài Nọc đượng, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ gióng, Năm dày, Sáu hột, Bảy sưa, Tám giây, Đỏ mỏ... dường như vốn là hình vẽ những chồng/xâu tiền đồng mà ta thấy trên các con bài Tôn cửu sách, Bát sách, Thất sách của loại Diệp tử mã điếu đã nói trên hay cụ thể là pho sách của bài Toàn Đối.

Cần nhắc lại rằng họa tiết uốn lượn như con rắn trên một số con bài (Nọc đượng, Nhì nghèo...) là để chỉ chúng thuộc pho Sách (Sách: dây lằng ngoằng và có thể là sợi dây để xâu tiền đồng). Do cách phối trí các chồng/xâu tiền và các nút, cộng thêm dây/rắn nên đồ án trang trí/gợi liên tưởng hình dáng của một vật (Nọc đượng), con vật (Ba gà), đồ vật (Tứ gióng) hay tính chất của hình họa (dày, thưa)...

- Các con bài thuộc pho Vạn: 1/ Có chữ viết (Hán tự) chỉ tên con bài; 2/ Bán thân người; 3/ Đồ án trang trí (dưới cùng). Ở các con bài này, hình bán thân người hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hí khúc hay nhân vật của truyện Thủy hử, thuộc pho Vạn tự của bài Diệp tử mã điếu và Toàn Đối nói trên. Đại thể, mặt người ở các con bài này (của Bài Chòi/Bài Tới) trong chừng mực nào đó là Mặt tuồng/Hát bội - loại hình “Hí khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ, nơi Bài Tới/Bài Chòi thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như Học trò (Nhất trò) đội khăn, Cửu chùa (thầy) đội mũ Tì lư...

2/ Bài Diệp tử mã điếu (bốn pho) lưu hành thời Minh, đến thời Thanh biến đổi thành bài Mặc Hòa, Đấu hổ, Chỉ trương (3 pho) và Toàn Đối. Điều này cho phép đoán định niên đại ra đời của Bài Tới ở xứ ta sớm nhất là trong thời Thanh (giữa thế kỷ 17 về sau) và như đã nói, trong hành trang văn hóa của lưu dân Thuận Quảng vào khai phá vùng đất Nam bộ không thấy có Bài Chòi. Điều này cho phép đoán định thêm là Bài Chòi chỉ ra đời sớm nhất là cuối thế kỷ 18, tức sau khi kết thúc cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.

3. Một vấn đề khác có liên quan là nguồn gốc hình họa của bộ bài Tổ Tôm. Vấn đề được đặt ra: tất cả những hình họa trên con bài Tổ Tôm đều là “đặc trưng Nhật Bản rõ rệt, nhất là tất cả các nhân vật đều mặc kimono (tước vật) thời Edo (Giang Hộ), trong số này có 18 đàn ông (có 8 người bó chân), 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em.

Các hình cá chép (koi, lý), trái đào (mono), thành (shiro), thuyền (fune) cũng là những hình ảnh Nhật” (5). Thế nhưng loại bài Tổ Tôm này “chỉ có người Việt chơi, người Nhật không chơi, người Hoa cũng không chơi (trừ một số ít Hoa kiều ở VN)” (6). Ý kiến trên có 2 câu hỏi: 1/ Nguồn gốc bộ bài Tổ Tôm và 2/ Nguồn gốc và hình họa của bộ bài này?

Như đã trình bày, bài Tổ Tôm có gốc từ loại bài biến thể của Diệp tử mã điếu - xét ở cơ cấu, số lượng, tên gọi... Còn câu hỏi thứ hai, theo các cứ liệu lịch sử, chúng ta có thể giả định là các hình họa đó do một nghệ nhân/họa sĩ người Nhật sống ở Hội An thực hiện và in ấn bán ra thị trường Đàng Trong, dựa trên qui phạm của loại bài Mặc Hòa (hay Đấu hổ) vốn đã phổ biến trước đó. Giả thiết này được hỗ trợ bởi cứ liệu ngữ âm phương ngữ xứ Quảng: âm “am” được đọc thành “ôm”.

Loại bài biến thể từ Diệp tử mã điếu vốn được gọi là Tụ Tam (hiểu theo nghĩa là luật chơi dựa vào sự tích hợp 3 con bài theo hàng ngang hay hàng dọc) được dân xứ Quảng gọi theo ngữ âm đặc trưng của mình thành “Tổ Tôm”. Chỉ có người Quảng mới có thể đọc “tam” thành “tôm”. Nói cách khác, bài Tổ Tôm phải chăng xuất hiện đầu tiên ở Quảng Nam, cụ thể là Hội An, theo “maquette” của nhà tạo mẫu người Nhật ở phố Nhật Bản Hội An thực hiện. 

HUỲNH NGỌC TRẢNG - NGUYỄN ĐẠI PHÚC

nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/188402/Nguon-goc-bo-Bai-Choi.html

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

110118- Đã thấy lấp ló bản sắc kiến trúc Việt?

Kiến trúc nông thôn mà ứng xử không thận trọng sẽ đơn điệu, phi nhân văn như những căn hộ, những lồng sắt tập thể không bản sắc. Hiện đã và đang diễn ra quá trình đóng khung đời sống tinh thần nông thôn trong những mẫu nhà hộp - hình ống đô thị.

LTS: Những ngày cuối năm 2010, công trình Nhà cộng đồng thôn Suối Rè (xã Cư Yên, huyện Lương Sơn) do KTS Hoàng Thúc Hào thiết kế, vừa là chủ đầu tư đã khánh thành. Đây là lần đầu tiên 1 KTS tự đầu tư cho 1 công trình kiến trúc hoàn toàn mang ý nghĩa xã hội, phi lợi nhuận, lại là kiến trúc dành cho nông thôn, nên đã gây chú ý trong cộng đồng giới KTS. Không chỉ là công trình cụ thể dành cho 1 địa bàn cụ thể, từ cách làm này, KTS Hoàng Thúc Hào mong muốn sẽ mở ra hướng đi mới, góp phần tạo nên bản sắc kiến trúc nông thôn Việt Nam hiện đại, trong đó người KTS có vai trò chủ động sáng tạo.

Tuần Việt Nam có cuộc trò chuyện  với KTS Hoàng Thúc Hào, hy vọng mở đầu cho loạt ý kiến của giới KTS tiếp tục chủ đề  "đi tìm bản sắc kiến trúc Việt Nam hiện đại".

Loay hoay với ngôn ngữ kiến trúc Việt

- Mấy năm vừa rồi gặp anh đều nghe chuyện công trình Nhà cộng đồng thôn Suối Rè do anh vừa thiết kế, vừa là chủ đầu tư, từ khi chỉ là ý tưởng đến suốt quá trình thực hiện. Ấp ủ công trình lâu như thế, đâu là khó khăn lớn nhất để công trình có thể hoàn thành?

- Khó khăn đầu tiên là việc lựa chọn cho đúng mình sẽ làm công trình gì ở nông thôn. Đến giờ tôi nghĩ lựa chọn của chúng tôi hoàn toàn xác đáng. Khi làm nhà cộng đồng, mọi người dân trong làng đương nhiên có quyền sử dụng nhưng họ không nhất thiết phải ở đó. Nếu mình làm nhà ở bằng đất, bằng tre thì khả năng thuyết phục khó khăn hơn, vì dân làng vẫn bị tâm lý thích nhà cao cửa rộng, muốn chắc chắn, bằng bê tông cốt thép hệt đô thị.

Quyết định dựng nhà cộng đồng rồi, trăn trở tiếp theo là tìm lời giải cho tính "đa năng" của nó - người dân có thể sử dụng vào nhiều mục đích. Như ở ngôi nhà này vừa là nhà trẻ - lớp mẫu giáo, vừa là chỗ đọc sách, không gian tụ họp, sinh hoạt văn hóa thể thao, cập nhật thông tin... kể cả tổ chức hội hè, cưới xin, ma chay...

Đa năng như vậy mà làm cho hay, cho đẹp thì vẫn là thứ xa xỉ ở nông thôn Việt. Song băn khoăn nhất, hồi hộp nhất là việc không hiểu người dân sẽ đón nhận công trình thế nào? Có bị xơ cứng, hình thức như phần lớn nhà văn hóa thôn bản khác - suốt ngày đóng cửa không? Làm sao tạo sức sống cho nó? Trước khi công trình hoàn thành, chúng tôi lo có thể người dân thờ ơ, vì cuộc mưu sinh bươn chải khiến họ mất hết thời gian, sức lực, không hơi đâu màng đến sinh hoạt tinh thần...

Bởi vậy, chúng tôi tập trung sâu vào những hoạt động thường nhật nhất, thiết thực nhất như không gian dành cho nhà trẻ, mẫu giáo thôn, một sân chơi bóng chuyền, bóng đá... hay đơn giản là tủ sách nhỏ cho các cháu.

Chứng kiến những trẻ chăn trâu thả trâu ở triền đồi, vào tầng trệt đọc sách, nghe tiếng vui đùa trong lớp mẫu giáo, hay chiều đến thanh niên thôn tụ tập đánh bóng chuyền trước nhà, thì bước đầu chúng tôi cảm thấy ấm lòng.

Công trình có phong thủy đắc địa, thế tựa sơn, tránh gió bão, lũ quét, mặt hướng thẳng ra thung lũng. Ảnh: Ashui.com

- Một công trình tự mình làm sẽ gửi đi thông điệp gì đó. Thông điệp chính mà anh muốn nhắn gửi lần này?

- Thứ nhất, về mặt chuyên môn, có thể hy vọng từng bước kiến tạo một ngôn ngữ kiến trúc nông thôn mới, vừa kế thừa truyền thống, lại có hơi thở ngày hôm nay: Hiện đại, thân thiện, tiết kiệm năng lượng. Mong muốn của tôi là qua công trình có thể kiểm chứng khả năng xây dựng một ngữ pháp kiến trúc Việt hiện đại? Bạn thấy đấy, kiến trúc nông thôn xưa rất đẹp thì kiến trúc nông thôn nay cũng phải xứng tầm. Làm cho nông thôn không chỉ là những chương trình "tình nghĩa", từ thiện nặng về hình thức, tạm bợ, lấy số lượng mà bỏ quên tính hữu dụng và thẩm mỹ.

Thông điệp thứ hai, về mặt xã hội, có hay không khả năng huy động các nguồn lực xã hội để giải quyết vấn đề kiến trúc nông thôn? Cốt lõi phải có những tổ chức trung gian, có thể dạng quỹ kiến trúc xã hội, nhằm kết nối các nguồn lực xã hội với người dân và chính quyền địa phương, vì để tự nông dân sẽ rất khó tiếp cận các nguồn lực đô thị.

Thông điệp thứ ba: Hy vọng phổ biến và nhân rộng quy trình thiết kế "3 xanh" cùng công nghệ xây dựng và phương thức vận hành nhà cộng đồng. Quy trình thiết kế "3 xanh" là xanh về mặt văn hóa xã hội, xanh về môi trường - kiến trúc và xanh về kinh tế - kỹ thuật. Công nghệ xây dựng chủ yếu tận dụng vật liệu, nhân công địa phương, kết hợp công nghệ truyền thống và cải tiến, tiết kiệm năng lượng, thân thiện.

Phương thức vận hành nhà cộng đồng: Có hoạt động thường xuyên và định kỳ. Chủ yếu diễn ra những sinh hoạt thường ngày, thiết yếu của dân làng, Kết hợp sinh hoạt định kỳ có tính hiện đại, cập nhật thông tin, kỹ thuật mới, giao lưu với văn minh đô thị.

Vì danh ư? Tôi nghĩ rất bình thường!

- Công trình rất được giới KTS chú ý và bàn luận. Anh có nhận phản hồi trái chiều nào không?

- Thật ra phản ứng trái chiều không nhiều. Thí dụ có người bảo nhà mở nhiều cửa thế thì mùa đông lạnh, hay tầng trệt như vậy sẽ bị ướt, ẩm thấp? Rồi giá thành xây dựng có cao không? Làm cho nông thôn nghèo mà sàn tre hơi xịn, hơi bị bóng. Cũng có ý kiến nói rằng ở bên Mỹ có mô hình tương tự làm cho nông thôn như ở văn phòng Rural studio của KTS Samuel Mockbee? Thậm chí tôi nghe phong phanh rằng công trình này có mục đích chính trị, hoặc vì cái danh...

70% dân mình vẫn ở nông thôn, và trong quá khứ kiến trúc đặc sắc nhất của người Việt là từ làng. Chúng ta mải chạy theo kiến trúc đô thị bỏ quên nông thôn quá lâu, nên trở về là tất yếu.

Hầu hết kiến trúc nông thôn xây dựng gần đây xấu là do người thiếu năng lực chuyên môn, hay họ cho rằng kiến trúc nông thôn đơn giản, không cần đầu tư công sức, chỉ cần "rẻ"?

- Bỏ qua những phản hồi về chuyên môn, anh lý giải thế nào về giá thành công trình và chuyện mục đích chính trị hay vì cái danh?

- Về giá thành, do đây là công trình đầu tiên mang tính thử nghiệm, không tránh khỏi những chi phí phát sinh, nhiều cái vừa làm vừa thử nên làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí vài chục lần nên chi phí đội lên, nhất là phí nhân công. Song song quá trình thử nghiệm, chọn hệ vì kèo, cấu kiện, module điển hình, là câu chuyện giao thoa văn hoá, bản sắc Kinh - Mường biểu hiện ra sao trong không gian hình khối? Vấn đề văn hoá cũng ảnh hưởng kinh tế...

Thứ hai, đây là công trình tự đầu tư, mọi chi phí mình tự trả, vật liệu, nhân công... Nếu công trình được nhân rộng, có thể huy động lao động công ích vào thứ bảy, chủ nhật, trong lúc nông nhàn hay sự góp sức của lực lượng thanh niên, tình nguyện... Cộng với vật liệu tại chỗ, lên kế hoạch trước, ngâm tre, gom đá, xử lý đất, thì giá thành sẽ rất rẻ.

Về mục đích chính trị: Mỗi vấn đề của kiến trúc, quy hoạch thường gắn với việc chia sẻ quyền lực. To như quy hoạch thành phố, nhỏ như xây một ngôi nhà đều liên quan tới những khía cạnh quản lý, luật pháp, tức là gián tiếp gắn với chính trị. Lâu nay công trình làm cho nông thôn chưa nhiều, chưa hiệu quả nên nếu có công trình đi vào cuộc sống thì hiển nhiên có ý nghĩa chính trị, xã hội nhất định.

Còn làm vì danh? Tôi nghĩ rất bình thường. Một người tâm huyết, khao khát làm gì chính đáng thì mong có danh với cuộc đời cũng là lẽ thường. Người làm nghề nào mà chẳng mong muốn tác phẩm của mình tốt, được xã hội công nhận? Vấn đề là công việc trong sáng, chính danh, tận lực hay không? Chuyện đến đâu để xã hội và thời gian trả lời.

Giải pháp kết cấu đơn giản, tiết kiệm, vật liệu địa phương sẵn có, theo nguyên tắc: Thống nhất trong tương phản đa dạng. Ảnh: Ashui.com

Lòng tốt phải đến đúng địa chỉ

- Công trình này là nỗ lực chủ yếu của cá nhân KTS, nhưng để nhân rộng mô hình không thể chỉ là nỗ lực cá nhân. Anh đã nhắc đến vai trò của tổ chức trung gian, và các anh cũng đã công bố ý tưởng thành lập Quỹ kiến trúc xã hội. Vậy anh có lạc quan về khả năng tham gia của xã hội? Sẽ cần những "bên liên quan" nào?

- Vấn đề phổ biến nhân rộng cực khó nếu là nỗ lực của chỉ một nhóm nhỏ, dù có tâm huyết đến đâu cũng không thể phát huy. Sự nghiệp này đòi hỏi hợp lực của nhiều tổ chức, cá nhân tâm huyết thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Tôi tin rằng trong xã hội luôn có những tấm lòng. Câu chuyện về môi trường, kiến trúc, cảnh quan, vệ sinh nông thôn cũng là câu chuyện lớn, cần chia sẻ và đóng góp của cộng đồng. Hy vọng sẽ có những Bill Gates, Waren Buffet của Việt Nam.

Song những tấm lòng đó phải gửi đến đúng địa chỉ. Kiến trúc nông thôn mà ứng xử không thận trọng sẽ đơn điệu, phi nhân văn như những căn hộ, những lồng sắt tập thể không bản sắc. Hiện đã và đang diễn ra quá trình đóng khung đời sống tinh thần nông thôn trong những mẫu nhà hộp - hình ống đô thị.

Quỹ chúng tôi cần và phải khẳng định được sự tin cậy cho những tấm lòng muốn chia sẻ.

- Tới đây anh sẽ dành bao nhiêu thời gian cho kiến trúc nông thôn? Bao nhiêu thời gian cho những công trình hiện đại?

- Có thể nói thế này, tất cả hoạt động chuyên môn của tôi, giảng dạy đại học, quy hoạch - thiết kế công trình là một tổng thể hữu cơ, khó phân định rạch ròi. Nhưng vài năm lại đây, câu chuyện kiến trúc xã hội choán phần lớn tâm trí tôi, tôi cảm nhận rằng con đường tìm kiếm một ngôn ngữ kiến trúc Việt hiện đại có thể hé lộ, phát lộ ra từ kiến trúc xã hội chăng?

Ngôi nhà này vừa là nhà trẻ - lớp mẫu giáo, vừa là chỗ đọc sách, không gian tụ họp, sinh hoạt văn hóa thể thao, cập nhật thông tin... kể cả tổ chức hội hè, cưới xin, ma chay... Ảnh: Ashui.com

- Anh có nghĩ xây dựng các công trình cho nông thôn bằng vật liệu địa phương, nhân công địa phương, thân thiện môi trường... là một xu hướng mà kiến trúc Việt Nam nên đi?

- Chỉ biết 70% dân mình vẫn ở nông thôn, và trong quá khứ kiến trúc đặc sắc nhất của người Việt là từ làng. Chúng ta mải chạy theo kiến trúc đô thị bỏ quên nông thôn quá lâu, nên trở về là tất yếu.

Hầu hết kiến trúc nông thôn xây dựng gần đây xấu là do người thiếu năng lực chuyên môn, hay họ cho rằng kiến trúc nông thôn đơn giản, không cần đầu tư công sức, chỉ cần "rẻ"?

Vấn đề cốt lõi để tìm ra cái đẹp và hữu dụng, chắc chắn cần những cá nhân, tổ chức dấn thân, cần cả tâm huyết song hành cùng khả năng nghề nghiệp, để khi xuất hiện nguồn lực xã hội sẽ cho kết quả xứng đáng.

Khánh Linh

nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-01-17-da-thay-lap-lo-ban-sac-kien-truc-viet-

110117- Nhớ trò nghịch chơi ngày Tết

Cắc tùng cheng. Hai con lân dũng mảnh vươn đầu, nhảy sụp, lắc bên này lắc bên kia, lên lên xuống xuống… Bất chợt tôi nghe mắt mình cay cay. Nửa thế kỷ, thời tưởng đã vĩnh viễn xa bỗng nhiên tái hiện trong tôi như đã tìm được một quãng đời đã mất… (Phan Bá Thi, Mỹ)

Hôm đó hai chúng tôi lái xe đi chợ, tình cờ vào ngày khai trương của một vài cửa hàng ở khu phố Việt Nam ở Seattle, thấy mấy đoàn lân và ngóng nhìn mấy đám khói nghe những tràng pháo đầu năm. Cũng thân quen như những năm trước đây. Tùng tùng cheng cheng. Đoàn lân chồm chồm múa múa, chúng tôi cưỡi ngựa xem hoa.

Lần này, vừa để xe xong đã thấy ông chủ tiệm Saigon Deli xua tay mời mang xe đi nơi khác… Tôi vui vẻ mang xe đậu chỗ khác vài chục mét xa hơn. Hai chúng tôi vừa bước vào cửa tiệm thì chú ý thấy đã có đoàn lân tập trung trước cửa với một giây pháo chắc cũng đến hơn năm mét treo trên cành cây trước tiệm.

Hai con lân, con bạc con vàng đang phục mình chờ pháo nổ. Một người đang cầm đầu pháo chuẩn bi đốt. Hai tôi dừng lại sau cánh cửa kính, chờ… Một phút sau, tràng pháo bắt đầu giòn giã reo vui… Cắc căc cắc. Tùng tùng tùng cheng cheng cheng….cắc cắc tùng tùng tùng cheng cheng…. cắc tùng cheng… Hai con lân dũng mảnh vươn đầu, nhảy sụp… lắc bên này lắc bên kia… lên lên xuống xuống…

Bất chợt tôi nghe mắt mình cay cay… Một khoảng đời tưởng đã vĩnh viễn xa với tuổi đời bỗng nhiên tái hiện trong tôi như đã tìm được một quãng đời đã mất… Những mùa Tết đó, lũ nhỏ chúng tôi cứ kéo nhau theo đoàn nhìn lân múa, leo cây để ăn lộc của chủ nhà mà từng lọn tiền cột chuỗi trên giây màu đỏ.

Hồi ấy bọn tôi thèm được có những lọn tiền cột ép giống như những chiếc nơ. Chúng tôi thèm nhưng bằng lòng tìm nhặt trong vũng xác pháo những chiết pháo tịt hay chưa kịp cháy. Bọn trẻ chúng tôi thách nhau cầm chiếc pháo trên tay và đốt.

Bọn trẻ chúng tôi, lắm khi có cả lũ con gái nhát gan nhưng ham vui và tò mò, thích nhìn pháo tống nổ. Mười đứa thì hết mười đứa đều hồi hộp chờ viên pháo tống từ trên dây rớt xuống. Lúc ấy mười đứa cũng như một chục liền đưa hai bàn tay lên bịt lỗ tai. Đùng một cái rõ to là cả bọn lại buông tay reo hò. Một trái pháo tống khác rớt xuống, lại bịt tai, đùng, lại reo hò. Nó như một trò chơi đã thành luật. Nhiều khi bọn nhỏ chúng tôi đốt một viên pháo, ụp lên một cái lon sữa bò. Pháo nổ tung cái lon lên cao. Lại reo hò, reo hò vì pháo đã nỗ, lon đã tung. Nhưng cũng lo lo là liệu cái lon co tung lên trúng kiếng nhà ai đó không?

Pháo chuột thảy vào bọn con gái nổ đẹt một cái nhỏ nhưng cũng đủ làm các nàng hét toáng lên. Tôi biết tỏng các vị sợ thì ít, làm dáng thì nhiều, kiểu như em đây nhát cáy lắm các anh đừng làm em sợ nha. Rồi mấy ngày chơi pháo cũng qua nhanh, bọn con trai lại quay về với đánh bi đá dế, bọn con gái với đánh thẻ nhảy dây…

Đã nữa thế kỷ, đây là lần đầu tiên hai con lân lạy bái trước mặt tôi cách không quá một mét, hai tôi tình cờ hưởng thay cho ông chủ. Con Lân, Ông Địa, tiếng trống chiêng, tiếng nổ, màu đỏ và khói hăng hăng của pháo. Đã lâu lắm rồi…

Tôi vừa tìm lại một quãng đời của tuổi nhóc… trong một khoảng khắc của cuộc đời đã vào tuổi xế chiều… Vui và nhiều cảm xúc.

Phan Bá Thi

nguồn: http://vnexpress.net/GL/The-gioi/Xuan-Que-huong/2011/01/3BA257AC/

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Tam cúc (Bài của Việt Nam)




Tam Cúc là tên một trò chơi bài lá dân gian phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tam Cúc là thú chơi của tầng lớp bình dân và được nhiều tầng lớp chơi vì luật chơi khá đơn giản. Tam Cúc không chỉ được chơi khi giải trí, rỗi rãi mà trong các ngày lễ, Tết, nó cũng là trò chơi không thể thiếu. Người dân đồng bằng Bắc Bộ thường có tập quán chơi Tam Cúc trong lúc đợi nồi bánh chưng chín. Tuy nhiên, đối tượng chủ yếu chơi Tam Cúc vẫn là phụ nữ vì Tam Cúc có số bài ít, còn nam giới thì chơi Tổ Tôm nhiều hơn.
Bộ bài Tam Cúc có 32 lá bài gồm hai loại quân là quân đỏ và quân đen. Mỗi loại gồm các quân tướng (将), sĩ (士), tượng (像 có vẽ hình con voi), xe (車 có vẽ hình cỗ xe), pháo (砲 có vẽ hình khẩu thần công), mã (馬 có vẽ hình con ngựa), tốt (卒 có vẽ hình người lính). Trừ tướng chỉ có 1 lá và tốt có 5 lá mỗi loại quân, các quân khác đều có 2 lá. Quân bài Tướng của loại quân đỏ được gọi là Tướng ông. Quân bài Tướng của loại quân đen được gọi là Tướng bá. Quân bài Sĩ của loại quân đỏ được gọi là Sĩ điều. Còn các quân khác đều gọi theo tên kèm màu sắc của loại quân. Số lượng và quân bài khá giống như các quân trong cờ tướng.

Lá bài làm bằng bìa mỏng, hình chữ nhật dài và hẹp, ở trên có ghi các tên bài bằng chữ Hán và có hình minh họa. Mặt sau thì giống hệt nhau cho cả 32 lá bài.
Người nào có số lượng lá bài thắng nhiều nhất thì người đó xếp thứ nhất và tiếp theo đến người thứ hai, thứ ba..
Bài Tam Cúc được phân định lớn nhỏ như sau : Tướng > Sĩ > Tượng > Xe > Pháo > Mã > Tốt.
Các quân bài cùng tên thì giá trị quân đỏ lớn hơn quân đen.
Các bộ quân trong bài:
Bộ đôi: Hai quân bài cùng màu, cùng tên như đôi Sĩ điều, đôi Pháo đen...
Bộ ba: Ba quân Tướng-Sĩ-Tượng, Xe-Pháo-Mã cùng màu. Nhưng Sĩ-Tượng-Xe hay Tượng-Xe-Pháo thì không phải là một bộ ba.
Tứ tử: Bốn quân Tốt cùng màu.
Ngũ tử: Năm quân Tốt cùng màu.
nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_c%C3%BAc
http://www.xuquang.com/cms/index.php?option=com_content&task=view&id=214&Itemid=43