Công trình của Tỷ Lệ Vàng
xem online: http://thanhphohomnay.com/noi-that--kien-truc/giai-phap-cho-nha-nho-498
Ngôi nhà ống Jalan Elok ở Singapore (giải thưởng President’s Design Award 2008) được thiết kế bởi KTS Chang Yong Ter một lần nữa cho chúng ta thấy được sự chiến thắng của con người đối với thiên nhiên.
Đây là một trong những lời giải của bài toán làm sao đưa được thiên nhiên vào trong thành phố ngay ở trong những không gian tư hữu nhỏ. Thiên nhiên ở đây được “dàn cảnh” để trở thành phần tử quan trọng của ngôi nhà. Những bức tường “xanh” được sử dụng ở đây đến từ kỹ thuật trồng vườn mới. Chúng có thể được đặt ở trong nhà hay ngoài trời. Ngoài tính trang trí như một bức tranh “sống” thay đổi cùng thời gian chúng còn có hai tác dụng quan trọng khác nữa là chống nóng và chống tiếng ồn. Tính cho đến nay đã có nhiều phương pháp sản xuất kiểu tường này. Ở đây chúng được tổ hợp bởi những tấm panel bằng sợi thuỷ tinh theo dạng túi nhỏ. Mỗi túi dành cho một cây chứa đựng một loại chất hữu cơ có khả năng giữ được nhiều nước. Những tấm panel này được chuẩn bị trước ba tháng tại xưởng sản xuất và có thể thay đổi kích thước tuỳ theo từng công trình. Chỉ cần một lớp chống thấm là chúng có thể được gắn lên tất cả các loại tường. Một hệ thống đường ống nước được đặt ngầm trong những tấm panel sẽ tưới cây theo thời gian đặt trước. Toàn bộ nước mưa thu từ mái nhà được đưa vào cùng hệ thống này.
Ngôi nhà nằm trong một thửa đất rộng và dài khoảng 6 x 22m. Gia đình bao gồm một đôi vợ chồng cùng với ba người con ở tuổi thiếu niên và một người giúp việc. Mong muốn của họ là có được các không gian riêng tư cho các thành phần trong gia đình nhưng cũng không vì thế mà hoàn toàn biệt lập. Điều quan trọng là họ phải ở gần gũi với thiên nhiên, để được sống lại những kỷ niệm thời thơ ấu của ông bà chủ nhà.
Công trình được thiết kế như một sự sắp đặt ba chiều của phong cảnh, nơi những không gian sống được đưa vào bên trong. Ngôi nhà có ba tầng với tầng 1 dài nhất bao gồm những không gian sinh hoạt chung, tầng 2 và tầng 3 xây thụt vào dành cho buồng ngủ và buồng tắm. Bản sàn tầng 2 và tầng 3 được xây cách hai tường bên 1m để ánh sáng tự nhiên xuống được tầng 1 và cũng là nơi thông gió cho nhà, cũng như tạo ra các tầm nhìn theo phương đứng. Để tạo thêm sự liên kết theo chiều đứng, một giếng trời được lấy thông suốt ba tầng. Từ đó những tầm nhìn đan chéo trong không gian làm cho ngôi nhà thoáng đãng hơn và tạo ra nhiều cơ hội liên kết giữa mọi người trong nhà với nhau hơn.
Ngôi nhà hoàn toàn hướng ngoại với toàn bộ mặt tiền mở rộng ra ngoài đường. Sự xuyên suốt trong không gian ấn tượng nhất ở tầng 1, bao gồm những chức năng như không gian đón khách, phòng ăn và không gian sinh hoạt chung, tất cả được phân chia bởi những bức tường “ảo” là những phần tử của thiên nhiên. Để tăng thêm sự xuyên suốt này, không gian giữa trong nhà và ngoài sân chỉ được ngăn bởi những tấm cửa trượt mảnh tổ hợp bởi khung thép và những sợi cáp căng. Vì thế ta mất hoàn toàn cảm giác giới hạn giữa trong nhà và ngoài đường.
Sự thay đổi chiều cao của trần nhà và sự mở thông của phòng ngủ tầng 2 đã cho phép ánh sáng ban mai đi vào được không gian sinh hoạt chung. “Với tất cả cây xanh, không khí và khí hậu mát mẻ với nước chảy xung quanh, chúng tôi thực sự cảm thấy như sống trên một ốc đảo với tất cả các điều kiện thuận lợi ở trung tâm thành phố. Buổi sáng thức dậy đi tắm, thư giãn, làm việc, nấu nướng và chợp đi một giấc, đó là tất cả những điều thú vị trong ngôi nhà của chúng tôi” Richard Wong (chủ nhà).
Ý tưởng sống cùng thiên nhiên mạnh nhất được tìm thấy ở không gian sinh hoạt chung. Hai bức tường “xanh” hai bên chạy hết chiều cao và bức tường sỏi vuông góc với chúng thông thẳng lên trên mái hứng những hạt nước mưa chảy xuống tận sàn nhà.
Sự cấu trúc của không gian kết hợp với sự sum suê của cây cối và nước đã tạo ra một vùng vi khí hậu mát trong nhà, nơi luôn có ánh sáng và gió tự nhiên. Ngôi nhà giống như khu rừng nhiệt đới không chỉ đã loại bỏ đi máy điều hoà, giảm rất nhiều ánh sáng nhân tạo mà còn toát lên một âm hưởng rất gần gũi và thân thiện.
Chưa bao giờ người ta nói đến kiến trúc sinh thái nhiều như những năm gần đây, sự huỷ diệt của con người đối với thiên nhiên đã làm cho trái đất có những vết thương không thể chữa nổi. Nhiều giải pháp kỹ thuật mới vẫn luôn được tìm ra để cải thiện cuộc sống. Nhưng khi nói nhiều đến kỹ thuật thì nghệ thuật như bị bỏ rơi, mà kiến trúc được cấu thành bởi hai nhân tố đó. Trong ngôi nhà Jalan Elok, kiến trúc sư Chang Yong Ter đã thành công trong việc sử dụng kỹ thuật để đáp ứng nghệ thuật. Hơn nữa việc tái tạo thiên nhiên để hoà cùng nhịp sống với con người là một giá trị cần phải hướng tới.
Từ phòng ăn nhìn vào không gian sinh hoạt chung. Độ cao của trần nhà thay đổi giữa hai không gian này.
Ánh nắng buổi chiều chiếu lên bức tường xanh (ảnh trái) / Nhìn từ không gian sinh hoạt chung (ảnh phải)
Giếng trời và các phòng ngủ ở tầng 2, 3. Sự liên hệ giữa khối và không gian, cùng với sự dàn cảnh của thiên nhiên (ảnh trái) / Cảnh trong nhà. Cầu thang được làm bằng những nan gỗ cho phép gió và ánh sáng xuyên qua (ảnh phải)
Cầu thang được làm bằng những nan gỗ cho phép gió và ánh sáng xuyên qua
Sự tổ hợp của những phần tử kiến trúc cho phép những tầm nhìn đan chéo trong không gian làm cho ngôi nhà thoáng đãng hơn và tạo ra nhiều cơ hội liên kết giữa mọi người trong nhà với nhau hơn.
Phòng của Tommy ở tầng 2 (ảnh trái) / Sự liên hệ của không gian (ảnh phải)
Phòng tắm được thông gió tự nhiên và cũng gần cây xanh.
Sân thượng ngôi nhà hoàn toàn có thể mang đến chất lượng thực sự của cuộc sống. Những chiếc nan thép có thể xoay để tránh những tia nắng chiếu trực tiếp.
Bức tường sỏi ở sau nhà cũng trở thành một phần tử thiên nhiên quan trọng. “Tất cả các phòng đều có hướng nhìn về cây xanh, sự yên tĩnh của tinh thần được thấy rõ khi những khoảng xanh nắm bắt được sự thay đổi của ánh sáng trong ngày” Richard Wong, chủ nhà phát biểu.
Đây là một trong những không gian thành công của ngôi nhà, vừa là bếp, vừa là không gian đón khách, nửa trong nhà, nửa ngoài đường. Cùng với sự sắp đặt của cây cối đã càng làm tăng thêm tính cách đặc biệt của không gian này.
Sự tác động của con người vào thiên nhiên luôn là một đề tài rất nhạy cảm, chúng ta sống không thể thiếu thiên nhiên nhưng với một xã hội tiêu thụ như hiện nay đã làm cho nhu cầu của con người ngày một gia tăng ảnh hưởng rất lớn tới chúng. Thiên nhiên không phải là nguồn tài nguyên vô tận, chúng ta đang huỷ hoại chúng hay chúng ta biết cách sử dụng chúng đúng nghĩa để phục vụ cho con người. Đó là câu hỏi không chỉ còn đặt ra cho những nhà khoa học mà là trách nhiệm của mỗi cá thể sống trên trái đất này. Nghĩ tới thiên nhiên cũng như nghĩ tới thế hệ tương lai của con em chúng ta.
KTS Chang Yong Ter - Ảnh: Albert Lim K.S, CHANG Architects
“Kiến trúc xanh” đang ngày càng được đề cập đến nhiều ở Việt Nam. Nhưng có một thực tế là vẫn còn rất nhiều người nhìn các công trình kiến trúc xanh như một món hàng xa xỉ, vì chi phí đầu tư ban đầu cho một công trình kiến trúc xanh có thể cao hơn một công trình bình thường hai đến ba lần, do những yêu cầu về mặt vật liệu và thiết bị để có thể xây dựng và khai thác công trình một cách hiệu quả nhất.
Trong khi đó, hiệu quả chỉ có thể nhận thấy sau một thời gian dài sử dụng, chứ không phải là một cái gì đó có thể thấy ngay trước mắt. Vậy nhận định đó đúng hay sai? Kiến trúc xanh có phải chỉ dành riêng cho những người lắm tiền nhiều của?
Khu sinh hoạt cộng đồng tổ chức theo mô hình khu chợ nông thôn Việt Nam với những gian hàng có vách ngăn bằng các cửa sổ cũ. Vật liệu hoàn thiện gỗ, tre, đá… được mang về từ các miền đất nước.
Nghiên cứu một cách cụ thể những mục tiêu của “kiến trúc xanh” cho thấy nếu bỏ qua những yếu tố về công nghệ khoa học mà đi kèm là những vật liệu xây dựng tiên tiến, thì về cơ bản, những mục tiêu mà “kiến trúc xanh” hướng tới rất gần với những giá trị của kiến trúc truyền thống Việt Nam: sự hoà hợp với môi trường xung quanh, sự thoải mái cho người sử dụng, sử dụng vật liệu địa phương...
Một trong những ví dụ tiêu biểu cho nhận định này là khu villa nghỉ dưỡng Six Senses Hideaway ở Côn Đảo. Công trình này được xây dựng hướng tới những mục tiêu của “kiến trúc xanh” như đã nêu ở trên, nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với mội trường khí hậu của Việt Nam. Ngôi nhà truyền thống của Việt Nam thường quay về “hướng nam” (lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam). Trên cùng quan điểm đó, toàn bộ các villa tại khu nghỉ dưỡng Six Senses đều quay ra biển, vừa để đón gió, vừa để khai thác tầm nhìn ra đại dương bao la.
Thực chất thì khi quay ra biển để đón gió, các villa này đã quay về hướng đông bắc, do đó mặt trước của các villa (vốn là những mảng kính rộng để tạo tầm nhìn tối đa ra biển) chịu tác động trực tiếp của mặt trời trước 12 giờ. Các kiến trúc sư đã xử lý bằng cách đưa phần mái nhà vươn rất dài ra phía trước, giúp cho toàn bộ mặt kính phía trước nằm trong vùng bóng mát che phủ, qua đó giúp cho không gian bên trong nhà không bị tích tụ hơi nóng từ bức xạ của mặt trời, đồng thời vẫn đảm bảo được cường độ ánh sáng tự nhiên cho không gian bên trong này. Do đó, nhu cầu sử dụng máy điều hoà trong các villa chỉ thực sự cần thiết vào khoảng giữa trưa, khi nhiệt độ ngoài trời vào khoảng 35 – 36 độ.
Phía trước của các villa, những hàng dừa với thân cao vút, giúp cho gió không bị cản lại, trong khi vẫn tạo bóng mát cho khoảng sân phía trước khi mặt trời đứng bóng. Phía sau là một khoảng vườn nhỏ trồng rất nhiều chuối, loại cây thân thấp và có lá to để hạn chế tác động của nắng phía tây vào buổi chiều. Hình ảnh này gợi lại hình ảnh của ngôi nhà truyền thống “phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối” vẫn gặp trong ca dao tục ngữ Việt Nam.
Những mái hiên dài, tạo bóng mát cho công trình. Phía trước của ngôi nhà truyền thống thường có cái ao rất rộng để khi gió thổi qua khu vực này sẽ lấy hơi ẩm của mặt nước và đem vào nhà. Tương tự như vậy, phía trước các villa của Six Senses cũng là các mặt nước để tạo độ ẩm cho gió. Khác biệt là ở chỗ nếu như trong ngôi nhà truyền thống, mặt nước là ao để nuôi cá, thì ở các villa này, mặt nước là các hồ bơi để du khách thả mình thư giãn trong nắng và gió của Biển Đông.
Toàn bộ các villa ở Six Senses đều có vật liệu hoàn thiện là gỗ, đá tự nhiên được đưa về từ các miền trong cả nước. Một điểm độc đáo là các kiến trúc sư đã sử dụng các cánh cửa và cửa sổ lấy từ các ngôi nhà truyền thống ở miền Trung để ghép lại thành các vách ngăn cho các gian hàng xung quanh khu vực sinh hoạt cộng đồng của khu nghỉ dưỡng, được xây dựng theo mô hình của khu chợ truyền thống của nông thôn Việt Nam.
Hệ thống mái dốc của các villa cũng tạo điều kiện cho việc thu nước mưa từ mái và sử dụng làm nước tưới tiêu cho các khu vườn trong khu nghỉ dưỡng. Các phương tiện đi lại trong khu nghỉ dưỡng là xe đạp hoặc xe điện, hoàn toàn không có các phương tiện sử dụng xăng dầu.
Điều nuối tiếc ở đây là tại nơi có nguồn nắng và gió gần như vô tận này, không thấy sự hiện diện của các tấm pin năng lượng mặt trời, của các quạt gió có thể chuyển năng lượng của gió thành điện năng, của một hệ thống lọc và xử lý nước để lượng nước mưa thu được có thể sử dụng làm nước sinh hoạt…
Điều đó thực chất là một trở ngại chung cho việc xây dựng các công trình “kiến trúc xanh” ở Việt Nam khi đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn. Nhưng những phân tích ở trên đã cho thấy rằng, vẫn có thể xây dựng “kiến trúc xanh” ở Việt Nam, dù rằng vẫn chưa thể đạt đến mức độ “xanh” tuyệt đối, bởi vì những yếu tố cơ bản nhất để tạo ra một công trình “kiến trúc xanh” trong bối cảnh Việt Nam thực chất đã nằm ngay trong tiềm thức của mỗi con người chúng ta.
Làm sao để có thể xác định một cách cụ thể như thế nào là “kiến trúc xanh”?
Năm 2004, sau một thời gian dài nghiên cứu và tổng hợp, chính phủ Pháp đưa ra cho công chúng 14 mục tiêu của công trình “kiến trúc xanh” - HQE (Haute qualité environnementale). Các mục tiêu này được chia ra thành bốn nhóm:
Nhóm 1: xây dựng công trình
– Sự hoà hợp của công trình với bối cảnh xung quanh, cả về mặt tự nhiên và xã hội.
– Sự lựa chọn hợp lý về phương thức và vật liệu xây dựng đối với từng vùng, từng địa điểm, ưu tiên sử dụng vật liệu có sẵn tại địa phương, vật liệu có khả năng tái sử dụng, vật liệu không tiêu tốn nhiều năng lượng trong quá trình sản xuất.
– Công trường xây dựng sạch, không gây ảnh hưởng đến đời sống người dân lân cận.
Nhóm 2: khai thác công trình
– Giảm thiểu việc tiêu thụ năng lượng: hạn chế lượng nhiệt thất thoát ra bên ngoài, hạn chế sự trao đổi nhiệt trong và ngoài công trình, sử dụng các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo...
– Giảm thiểu việc tiêu thụ nước: sử dụng các thiết bị vệ sinh tiết kiệm nước, có hệ thống thu, lọc và tái sử dụng nước mưa, hệ thống lọc nước thải.
– Giảm thiểu lượng rác thải trong quá trình sinh hoạt, có sự phân loại rác thải ngay từ đầu để tạo thuận lợi cho quá trình tái chế và tái sử dụng.
– Giảm thiểu chi phí bảo trì và sửa chữa công trình bằng cách tạo điều kiện dễ dàng thuận lợi cho việc bảo trì và sữa chữa ngay từ khâu thiết kế.
Nhóm 3: sự thoải mái cho người sử dụng
– Kiểm soát nhiệt độ bên trong công trình để duy trì nhiệt độ cân bằng cho cả mùa hè và mùa đông.
– Kiểm soát độ ồn trong công trình.
– Đảm bảo ánh sáng tự nhiên trong công trình, cùng với việc sử dụng hệ thống chiếu sáng nhân tạo một cách hiệu quả nhất.
– Kiểm soát và xử lý mùi trong công trình: đảm bảo sự thông gió một cách hiệu quả cho công trình, có biện pháp ngăn chặn các nguồn khí ô nhiễm.
Nhóm 4: sức khoẻ của người sử dụng
– Sự thông thoáng và sạch sẽ của không gian trong công trình: có ánh sáng tự nhiên, có luồng khí vào và ra...
– Chất lượng nước sử dụng trong công trình.
– Chất lượng không khí trong công trình.
Những mục tiêu trên có thể giúp định ra một khái niệm sơ bộ về một công trình “kiến trúc xanh”: giảm thiểu tác động của công trình đến môi trường xung quanh trong cả quá trình xây dựng cũng như sử dụng, sử dụng năng lượng và nguồn nước một cách hiệu quả, đem đến cho người sử dụng cảm giác thoải mái, có biện pháp đảm bảo các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của người sử dụng.
ThS.KTS Đỗ Đăng Khoa
nguồn: http://mag.ashui.com/index.php/chuyenmuc/kientruc/67-kientruc/5298-kien-truc-xanh-o-con-dao.html
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, đã nảy sinh các khuynh hướng kiến trúc mới nhằm đưa con người trở lại với thiên nhiên, lấy lại sự cân bằng giữa môi trường thiên nhiên và con người.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, các hiện tượng nhiệt độ trái đất gia tăng, mực nước biển trung bình tiếp tục dâng cao, các thiên tai bão lụt thất thường xảy ra thường xuyên là mối nguy cơ hiện hữu đang đe doạ môi trường sống của con người trên trái đất. Trong khi đó sự phát triển của kiến trúc chỉ biết nhằm khai thác thiên nhiên và môi trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển bền vững.
Từ đó đã nảy sinh các khuynh hướng kiến trúc mới nhằm đưa con người trở lại với thiên nhiên, lấy lại sự cân bằng giữa môi trường thiên nhiên và con người. Đã xuất hiện các trường phái kiến trúc với tên gọi: kiến trúc hiệu quả năng lượng, kiến trúc môi trường, kiến trúc xanh, kiến trúc sinh thái, kiến trúc sinh khí hậu, kiến trúc bền vững. Trong đó, kiến trúc bền vững bao hàm toàn bộ các nội dung, các xu hướng kiến trúc nêu trên và kiến trúc sinh khí hậu là cốt lõi, nơi hội tụ tất cả các nội dung, bởi vì kiến trúc sinh khí hậu được giải quyết tốt thì công trình thân thiện với tự nhiên, giảm bớt năng lượng tiêu thụ hoá thạch, bảo vệ môi trường sống và hệ sinh thái khu vực, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên do đó bảo đảm sự phát triển bền vững.
Riêng kiến trúc xanh (green building, green architecture) đòi hỏi các giải pháp đề xuất trên bốn lĩnh vực: giảm năng lượng sử dụng, giảm thiểu ô nhiễm bên ngoài và làm tổn hại môi trường, giảm năng lượng và tiêu hao tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm bên trong và tổn hại sức khoẻ con người.
Như vậy, kiến trúc xanh đòi hỏi kiến trúc phải giảm áp lực lên môi trường, giảm và xử lý chất thải, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Hay nói một cách khác là kiến trúc phải thân thiện với môi trường tự nhiên, không làm phá vỡ sự cân bằng tự nhiên của môi trường sống trên trái đất.
Với cách hiểu như vậy thì kiến trúc xanh có phải thật sự ra đời vào những thập niên cuối thế kỷ 20 hay không? Nếu chúng ta xem xét kỹ những kinh nghiệm mà cha ông đã tích luỹ được trong nền kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống thì chúng ta sẽ thấy được các tiêu chí trên của kiến trúc xanh đã được hình thành từ lâu lắm rồi.
Ngôi nhà luôn bảo đảm sự thông thoáng tự nhiên, không gian sử dụng được bố trí linh hoạt, tổ chức sân vườn trong khuôn viên có sự kết hợp hài hoà với cảnh quan thiên nhiên tạo nên một môi trường cân bằng sinh thái.
Đúng vậy, trong bố cục khuôn viên nhà ở dân gian truyền thống thường gồm có những ngôi nhà nhỏ giản dị được tổ chức theo lối bố cục phân tán vây quanh cái sân làm trung tâm. Cách sắp xếp ngôi nhà chính cùng các công trình phụ như chuồng trại chăn nuôi, công trình sản xuất, tổ chức sân vườn trong mỗi khuôn viên có sự kết hợp hài hoà với cảnh quan thiên nhiên tạo nên một bố cục tương đối hoàn chỉnh và cân bằng. Tất cả nhằm khai thác cao nhất các nguồn lợi môi trường dành cho sinh hoạt, sản xuất và cải tạo vi khí hậu. Cái sân đóng vai trò như một không gian mở đa chức năng, là nơi có thể tổ chức sinh hoạt của gia đình, là nơi sản xuất, phơi phóng đồng thời cũng là nơi tạo ra được những luồng gió đối lưu thông thoáng cho ngôi nhà vào lúc khí trời oi ả của mùa hè góp phần nâng cao tiện nghi sống cho gia chủ.
Các giải pháp tổ chức sân vườn trong khuôn viên như “ao trước – vườn sau, chuối sau – cau trước” không những có giá trị về tổ chức cảnh quan mà còn thể hiện được tính khoa học trong việc chống nóng bức, làm mát ngôi nhà, cải thiện điều kiện vi khí hậu, góp phần tiết kiệm sử dụng năng lượng. Đối với nhà vườn xứ Huế, cái vườn ngoài tác dụng góp phần làm cân bằng môi trường sinh thái, chúng còn được sử dụng như một không gian giải trí, ngắm cảnh chơi hoa, nơi đây tính chất văn hoá còn vượt trội hơn tính kinh tế.
Cái sân trời, một không gian mở đa chức năng, nơi có thể tổ chức sinh hoạt gia đình, gặp gỡ bạn bè hay thư giãn...
Do xuất phát từ nền văn minh lúa nước nên trong không gian kiến trúc dân gian yếu tố nước đã đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong khuôn viên ngoài mảnh vườn, cây xanh thì cái ao đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong bố cục khuôn viên truyền thống của người nông dân làng quê. Cái ao được xem như một nhân tố tạo nên môi trường sống đặc trưng cho hệ sinh thái nhà ở thôn xóm. Ao giúp cho người nông dân cải tạo được địa hình khu đất, là nguồn dự trữ nước để tưới cây trong vườn, là nơi nuôi cá, thả bèo nuôi lợn (heo). Chất thải động vật được ủ để bón cho cây trồng, khí của chúng dùng để đun nấu, và cây trồng dùng để xây nhà cửa. Một vòng sinh thái khép kín: vườn–ao–chuồng(VAC) đã thể hiện sự cân bằng đáng ngạc nhiên trong không gian gia đình. Ở đây khía cạnh truyền thống và chất khoa học đã hoà quyện vào nhau. Tổ hợp ngôi nhà, mặt ao, sân vườn, chuồng trại thể hiện một cấu trúc khá bền vững trong không gian ở của môi trường nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam.
Đặc điểm nổi bật của kiến trúc ngôi nhà là tính linh hoạt trong sử dụng không gian bằng những vách ngăn nhẹ, và luôn luôn bảo đảm sự thông thoáng tự nhiên. Cùng với cái hiên – một loại không gian chuyển tiếp giữa trong và ngoài nhà đã góp phần không nhỏ trong việc thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm. Dưới mái hiên các chủ nhân còn sử dụng những hình thức che chắn như mành sáo hay phên dại để ngăn bức xạ vào mùa hè, chắn gió lạnh vào mùa đông và lúc cần thiết lại chống lên để đón gió mát, một hình thức thích nghi với khí hậu mà không cần đến việc sử dụng năng lượng.
Công trình nằm ẩn mình dưới vườn cây xanh nhiệt đới, cùng với mái hiên nhằm chống bức xạ mặt trời, tất cả tạo nên một không khí mát mẻ dễ chịu vào mùa hè oi bức.
Trong cấu trúc của vỏ bao che ngôi nhà, tường, mái thật sự là những bộ lọc khí hậu. Vật liệu xây dựng cho chúng được khai thác tại chỗ như đá, gạch, ngói, gỗ, tre, lá. Đấy là những thứ vật liệu thân thiện với môi trường – vật liệu xanh, không gây ô nhiễm mà lại có thể tái sử dụng khi cần thiết.
Vậy là không gian nhà ở dân gian truyền thống từ lâu đã hình thành một sự gắn bó chặt chẽ giữa kiến trúc, con người và thiên nhiên. Ba yếu tố ấy đã hoà quyện với nhau không những tạo nên một không gian thẩm mỹ thuần khiết mà còn là một hệ cân bằng sinh thái. Những thành tựu mà cha ông ta đã tích luỹ được trong nhà ở dân gian truyền thống đã hình thành nên một thứ kiến trúc mà bản chất của nó ngày nay có tên gọi kiến trúc xanh, một thể loại kiến trúc nếu giải quyết tốt thì sẽ bảo đảm được sự thân thiện với môi trường, không gây ô nhiễm bởi chất thải, sử dụng vật liệu tái chế nhằm tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên hướng tới sự phát triển bền vững.
PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi - Ảnh: Thế Phương
nguồn: http://ashui.com/mag/index.php/chuyenmuc/kientruc/67-kientruc/4039-kien-truc-xanh-co-tu-bao-gio.html
Các cao ốc xanh tại Việt Nam vẫn chưa được hình thành bài bản mà chỉ mới ở dạng sơ khai.
“Các cao ốc văn phòng vốn được biết đến là những cỗ máy khổng lồ tiêu tốn năng lượng. Do vậy, đã đến lúc chúng ta cần phải phát triển cao ốc xanh bởi vai trò và hiệu quả của loại công trình này đối với môi trường và xã hội”.
Ông Yannick Millet, Giám đốc điều hành Hội đồng Công trình xanh Việt Nam (Vietnam Green Building Council - VGBC), nói. Hệ thống đánh giá công trình xanh Lotus sẽ không chỉ tập trung vào các cao ốc văn phòng, mà sẽ trải rộng ra các phân khúc khác như dự án căn hộ, trường học và nhà xưởng...
Doanh nghiệp dè dặt
Theo nhận định của các chuyên gia nghiên cứu thị trường, thực tế các cao ốc xanh tại Việt Nam vẫn chưa được hình thành bài bản mà chỉ mới ở dạng sơ khai. Cái khó của Việt Nam là các doanh nghiệp (DN) địa ốc, khách hàng chưa quen với khái niệm này khi con số dự án xanh đạt chuẩn quốc tế chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.
Nguyên nhân chính là do giới kinh doanh chỉ chú trọng đến lợi nhuận trước mắt, còn khách hàng vì không đủ khả năng tài chính cũng chưa quan tâm yếu tố thân thiện môi trường.
Thêm vào đó, sau một thời gian phát triển quá nóng, thị trường cho thuê văn phòng giờ đây đang rơi vào khủng hoảng thừa. Do đó, trước mắt, các chủ đầu tư vẫn đang chủ yếu tìm mọi biện pháp để nhằm giảm thiểu khoản lỗ của mình hơn là vấn đề môi trường. Mặt khác, kinh phí đầu tư trước mắt vào các cao ốc xanh này quá lớn nên DN trong nước còn dè dặt.
Chuẩn xanh mới phù hợp với VN
Theo ông Yannick Millet, cũng giống như các hệ thống chứng nhận công trình xanh trên thế giới như LEED, BREEAM của Vương quốc Anh, Green Star của Úc hay Green Mark của Singapore, hệ thống Lotus được xây dựng dựa trên hệ thống quốc tế, áp dụng phù hợp cho các dự án của Việt Nam.
Ưu điểm của việc xây dựng các cao ốc theo chuẩn Lotus là ứng dụng giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm tiết giảm tối đa chi phí hoạt động của các DN. Trung bình các công trình xanh sẽ tiết kiệm được 30% năng lượng sử dụng, giảm 35% lượng khí thải các-bon, tiết kiệm từ 30% – 50% lượng nước sử dụng và từ 50% – 90% chi phí xử lý chất thải.
Cũng theo VGBC, nếu đầu tư xây dựng dự án theo chuẩn xanh Lotus, chủ đầu tư sẽ có hai chiến lược để lựa chọn. Đó là chiến lược chi phí trung bình và chiến lược chi phí cao.
Ngoài ra, chủ đầu tư còn có được nhiều lợi ích kinh tế. Về ngắn hạn, bên cạnh việc thực hiện tiết kiệm trong xây dựng, các công trình còn có chất lượng cao hơn và từ đó tác động đến giá trị trước khi bán sản phẩm dự án và giá trị cho thuê.
Ở góc độ kinh tế lâu dài, các công trình xanh sẽ tiết kiệm nhiều loại chi phí như chi phí điện thấp hơn, tiết kiệm nước, chi phí bảo trì, nâng cấp sẽ thấp hơn so với những cao ốc bình thường và kết quả là khách hàng thuê cũng sẽ được hưởng lợi với việc trả mức phí quản lý thấp hơn.
Một số chuyên gia nhận định với xu thế hiện nay, DN nào mạnh dạn đi đầu xây cao ốc xanh nhất định sẽ thắng lớn. Tuy nhiên, để thực hiện tốt lý tưởng này, cần có sự hỗ trợ của Chính phủ bằng cách đưa vấn đề phát triển cao ốc xanh vào Luật Bảo vệ môi trường.
Hệ thống đánh giá công trình xanh Lotus sẽ đánh giá dự án qua 5 hạng mục gồm các tiêu chí như: tiết kiệm năng lượng, nước, nguyên liệu, bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu chất thải, môi trường sống của cộng đồng cũng như tác động của dự án đến môi trường xã hội xung quanh. Hiện tại, VGBC đang tiến hành mô hình thí điểm một số dự án. Trong đó, tòa nhà xanh của Liên Hiệp Quốc tại Hà Nội là dự án xanh Lotus đầu tiên, tiếp theo sẽ là các dự án như khu nghỉ mát Six Senses Hideaway tại Nha Trang, khu nghỉ mát IndochinaCapital tại Côn Đảo và cao ốc văn phòng Centre Point tại TPHCM.
nguồn: http://diaoc.phapluattp.vn/news/home/view.aspx?news_id=261918
| |
Tình trạng ấm lên toàn cầu có thể góp phần vào sự bùng phát nhiều bệnh chết người ở Philippines trong thời gian gần đây, theo nhận định của bộ trưởng y tế nước này.
“Những hậu quả mà giới khoa học dự đoán về hiệu ứng nhà kính đang xảy ra. Sự gia tăng nhiệt độ khiến nhiều bệnh tật phát sinh. Số lượng người mắc bệnh tả, sốt xuất huyết, thương hàn, sốt rét sẽ tăng”, Bộ trưởng Francisco Duque phát biểu.
Người đứng đầu ngành y tế Philippines cũng nhấn mạnh rằng, tất cả bệnh tật liên quan tới hiệu ứng nhà kính đều có thể kiểm soát được nếu người dân thực hiện đúng các nguyên tắc về vệ sinh dịch tễ và những người mắc bệnh được đưa tới bệnh viện nhanh chóng.
Hôm 20/11 vừa qua, văn phòng Tổ chức Chữ thập đỏ Philippines xác nhận có 3 người tử vong và 2.235 người khác phải nhập viện vì viêm dạ dày tại 3 thành phố phía nam nước này. Trước đó Bộ Y tế Philippines cho rằng các nạn nhân này mắc bệnh tả, nhưng Tổ chức Chữ thập đỏ khẳng định bệnh viêm dạ dày đang bùng phát.
Tả và viêm dạ dày có các triệu chứng giống nhau và lây lan qua nước uống bị ô nhiễm. Tiến sĩ Eric Tayag, người đứng đầu trung tâm kiểm soát dịch bệnh quốc gia, cũng xác nhận rằng bệnh thương hàn đã bùng phát ở thành phố Real (phía đông bắc thủ đô Manila) khiến 109 người nhập viện, nhưng chưa có trường hợp tử vong.
V.L (theo AFP)