Hiển thị các bài đăng có nhãn dâncư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dâncư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

100704- 9 nơi cư trú khủng khiếp nhất hành tinh

Thế giới có nhiều nơi đẹp như thiên đường, nhưng cũng không ít những thành phố khủng khiếp vì mức độ ô nhiễm, nghèo đói và tội phạm. Sau đây là những nơi được coi là kém lý tưởng nhất đối với cuộc sống của con người.



1. Dharavi, Ấn Độ

 
Là khu ổ chuột lớn nhất châu Á, Dharavi nằm ngay giữa trung tâm thủ đô tài chính Mumbai của Ấn Độ và được “tô vẽ” bằng những ngôi nhà ọp ẹp, rác ngổn ngang chất đống, thiếu nước sinh hoạt và mất vệ sinh nghiêm trọng.
 
2. Favela, Brazil
 


Khu ổ chuột này ở Rio de Janeiro của Brazil, nổi tiếng với những băng đảng chộm cướp, buôn bán ma túy và các vụ bạo lực. Các khu ổ chuột ở Rio de Janeiro tốt hơn các khu ổ chuột khác nhờ hệ thống vệ sinh, nước sạch và những dịch vụ công cộng khác, nhưng lại khủng khiếp hơn nhiều nếu so sánh số vụ đọ súng giữa các tay buôn lậu với cảnh sát và các loại tội phạm khác.
 
3. Kibera, Kenya
 


Những ngôi nhà ở Kibera là nơi trú ngụ của gần 1 triệu người. Đây là khu ổ chuột lớn nhất châu Phi và là một trong những khu ổ chuột lớn nhất thế giới. Tình trạng phá thai tràn lan đe dọa tính mạng của phụ nữ trong khi luôn có tới 50% nữ giới tuổi từ 16-25 ở khu vực này mang bầu.
 
4. Kabwe, Zambia
 


Kabwe là thủ phủ tỉnh Trung Zambia với số dân khoảng 210.000 người. Đây là một trong những nơi ô nhiễm nhất thế giới vì mỏ chì được phát hiện gần khu vực này năm 1902. Trung bình, mức ô nhiễm chì trong trẻ nhỏ cao gấp từ 5 đến 10 lần mức độ Ủy ban Bảo vệ Môi trường Mỹ cho phép và thậm chí có thể đủ để gây tử vong.
 
5. Chernobyl, Ukraine
 
 
Tổ hợp Hạt nhân Chernobyl, nằm cách thủ đô Kiev của Ukraine 130km về phía Bắc, gặp sự cố năm 1986, dẫn đến vụ tai nạn hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp 400 lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima. Nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraine, Belarus, Nga bị ô nghiễm nghiêm trọng. Những đám mây bụi phóng xạ còn lan ra nhiều vùng phía Tây của Nga, Đông - Tây Âu, Anh và miền Đông Mỹ.
 
6. Dzerzinsk, Nga
 


Dzerzhinsk là một trung tâm quan trọng của ngành sản xuất hóa học Nga, nơi cũng có một nhà máy sản xuất chất hóa học rất độc hại TEL. Một phần tư trong số 300.000 dân của thành phố vẫn làm việc trong các nhà máy sản xuất hóa chất độc hại và ô nhiễm là được cho là nguyên nhân chính khiến tuổi thọ trung bình của nam giới ở đây chỉ là 42 còn của nữ là 47.

7. Cubatao, Brazil
 

Nằm ở một vùng đầm lầy giữa Đại Tây Dương và dãy núi Serra do Mar, vào cuối những năm 1970, khu vực quanh Cubatao được một loạt bài báo ở Sao Paulo miêu tả là “thung lũng chết” và “thành phố ô nhiễm nhất thế giới”. Ở đây có một loạt các nhà máy như nhà máy lọc dầu (lớn nhất Brazil), nhà máy sản xuất dầu, nhựa đường, nhựa, xăng...
 
8. Khu căn hộ Bassac, Campuchia
 

Từng là một trong những công trình nổi tiếng của Campuchia, Khu căn hộ Bassac được xây dựng từ đầu những năm 1960. Đến giờ, nó vẫn là nơi cư trú của hàng trăm nghìn người, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy khu nhà này nguy hiểm như thế nào dưới sự tàn phá của thời gian.
 
9. Mogadiscio, Somalia
 


Đây là thành phố của những vụ bạo lực triền miên. Nhiều người dân đã phải chạy trốn khỏi nơi này.
Việt Hà
Theo Xinhua, wiki

Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

100613- Bảo tồn di sản kiến trúc bằng...nói?

Khi các di tích, di sản được khẩn trương "băm" ra thành các món lợi có thật thì bảo tồn mới dừng ở các khẩu hiệu hô hào suông.

Thiếu Lâm Tự - "mầu mỡ" của thương mại hóa [1]
Có sang Trung Quốc, mới thấy chùa Thiếu Lâm Tự đã trở thành "mầu mỡ" trong xu hướng thương mại hóa. Chùa càng nổi tiếng hơn và thu hút nhiều du khách hơn khi bộ phim Thiếu Lâm Tự có diễn viên tài danh Lý Liên Kiệt tham gia được công chiếu. Những hoạt động này cho thấy chùa không còn giữ được bản sắc và tinh thần võ thuật thuần túy như trước kia.

Giá vé 100 tệ để vào cửa, chùa được hưởng có 40 tệ, còn lại thuộc về Liên doanh giữa chính quyền thành phố Đăng Phong với Cảng Trung Lữ (Tập đoàn du lịch Hồng Kông). Liên doanh này đầu tư 100 triệu tệ (gần 300 tỷ VND), cùng kinh doanh và chia lợi nhuận. Hợp đồng kéo dài 40 năm, bắt đầu chính thức từ 2011.

Có nguồn tin cho hay chính Phương trượng Thích Vĩnh Tín đã ấp ủ ý tưởng này. Là Phương trượng trẻ nhất khi mới 26 tuổi, với học vị thạc sĩ quản trị kinh doanh, Phương trượng sẽ trở thành CEO của chùa Thiếu Lâm. Tuy vậy, ông đã phủ nhận thông tin trên. Chỉ vé vào cửa, khoảng 150 triệu tệ/năm. Dư luận xã hội TQ lại xôn xao hơn khi có tin Thiếu Lâm Tự sắp lên sàn chứng khoán.

Quan chức Tổng cục Thể thao quốc gia TQ khẳng định: "Việc thương mại hóa thể thao giờ đây là một xu hướng không thể tránh khỏi. Chúng ta thấy rằng thương mại hóa chùa Thiếu Lâm và kung-fu Thiếu Lâm sau này sẽ có tác dụng thúc đẩy kung-fu Thiếu Lâm, chẳng hạn như tổ chức Trường đại học Võ thuật".

Từ một di tích gắn liền với lịch sử có thật của nền văn minh vĩ đại, TQ đang muốn khai thác Thiếu Lâm Tự trở thành một dự án kinh doanh có kích thước và mở rộng không ngừng, lấy di tích làm điểm xuất phát. Hay dở thì cũng  là Trung Quốc, còn Việt Nam ta thì sao?

Non thiêng Yên Tử liệu còn "thiêng"? [2]

Non thiêng Yên Tử có nhiều cơ quan quản lý và khai thác. Trên mặt đất,  rừng Yên Tử thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng, dưới lòng đất Yên Tử thuộc Công ty than và địa bàn hành chính thuộc xã quản lý.

Đã từng có BQL di tích Yên Tử thuộc UNBN tỉnh, rồi UBND thị xã Uông Bí. Hiện nay bên cạnh BQL lại có Công ty Tùng Lâm - đơn vị trực tiếp khai thác. Công ty đã đầu tư nhiều hạng mục để phục vụ hàng vạn lượt khách mỗi ngày khi chính hội.

Sau mỗi năm các công trình lại được làm thêm để đón nhiều khách hơn. Việc này có hai mặt: Mặt tốt là khách thập phương hành hương thuận tiện đồng nghĩa với đem lại nhiều tỷ đồng tiền vé mỗi ngày. Nhiều hạng mục có mục đích thu lợi, thực hiện rất chủ động với tốc độ nhanh.

Trong khi các cơ quan quản lý từ tỉnh/huyện/ xã và Bộ chủ quản thì phản ứng chậm chạp, bị động, né tránh- vòng vo cuối cùng là thỏa hiệp theo kiểu chỉ đạo lập hồ sơ xin phép các cơ quan chức năng những công trình...đã xây xong.

Nhưng mặt khác, cùng trong vùng non thiêng, những nơi chợ búa, cửa hàng, dịch vụ hứng tiền du khách được dồn dập xây dựng thì những vấn đề như xử lý chất thải, giữ gìn nguồn nước sạch, bảo vệ cây cối, động vật tự nhiên hay lập hồ sơ quy hoạch tổng thể khai thác, công khai nguồn lợi thu về để phục vụ bảo tồn di tích...rất mờ nhạt và bị lờ đi khá kỳ quặc.

Lối đi đang được gia cố, bãi đỗ xe đang mở rộng, trên đỉnh núi ngôi chùa mới đúc bằng đồng lớn hơn xưa rất nhiều và sẽ có bức tượng vô cùng lớn đặt tại nơi thật cao để nhiều người nhìn thấy. Du khách đến ngày một nhiều hơn đồng nghĩa công ty tăng lợi nhuận.

Mỗi năm hành hương về đây, khách thập phương thường nghe thấy tiếng loa nhắc nhở: "Quý khách chú ý, đề phòng kẻ gian trộm cắp móc túi..." phát lên to hơn, tần suất cao hơn. Non thiêng liệu còn thiêng bao lâu nữa?

Bảo tồn di sản bằng... thơ và làm mới đình chùa theo cách nào?

Mấy chục năm nay, chúng ta hô hào bảo tồn phố cổ. BQL phố cổ đã được lập ra. Tuy vậy, cho đến nay BQL phố cổ không có trong tay tư liệu: Đó là mấy trăm tờ bản đồ TL1/200, khổ A0 vẽ những khu phố từ đầu thế kỷ, cập nhật đến năm 1965, mô tả từng bậc thang, bể nước, trụ cổng. BQL phố cổ cũng có vài bức vẽ ghi nhưng không mấy giá trị. Việc bảo tồn kiến trúc dường như chỉ bằng các...bài thơ ngợi ca phố cổ?

Bộ máy BQL chuyển từ TP về quận Hoàn Kiếm quản lý. Riêng các cơ quan, nhà trẻ, trường học, UBND các phường thuộc quận nằm trong khuôn viên các ngôi chùa, đình, hội quán, nhà cổ (vài chục điểm). Mỗi năm, các công trình này được quận đầu tư nâng cấp sửa chữa xây mới "cho phù hợp với mục đích hoạt động" cũng đồng nghĩa các ngôi nhà ngày càng ít cổ hơn.

Hà Nội có ngôi chùa cổ nhất là chùa Trấn Quốc, nay nhiều hạng mục kiến trúc hiện đã bị phá đi làm mới hoàn toàn. Đại diện Cục Di sản văn hoá - Bộ VHTT và DL  cho biết: "Cả nhà chùa và địa phương đều đã đi tìm tư liệu về cổng chùa gốc, nhưng đã không tìm được". Cổng mới to hơn, lối vào mở rộng đổ bê tông chắc chắn. Hai dãy hành lang thành nhà khách khang trang, có những lời khuyên khéo léo vào chùa đừng thắp hương mà nên gửi tiền công đức đóng góp làm mới chùa. Sổ sách ghi chép đàng hoàng nhưng chưa bao giờ thấy ai nói sẽ dành để ai xem...

Cõi thiền thanh cao xa lánh giờ đây đang đổi hướng: Mọi sự kiến thiết cốt để nơi này xích lại, thân mật với chốn trần ai cát bụi hơn.

Báo chí đã công bố bản vẽ ghi chùa từ đầu thế kỷ 20 của Viện Viễn Đông Bác Cổ, ảnh chụp năm 1940, 1958- cái cổng chùa xinh xắn gắn với quy mô ngôi chùa tỷ lệ hoàn chỉnh với không gian cảnh quan...

Nhưng những người tham gia xây mới chùa vẫn không coi là căn cứ, mà dựa vào những lý lẽ vu vơ mẫu vẽ copy nhặt nhạnh đâu đâu..Hầu hết các đình chùa Hà Nội đang có cùng mẫu thiết kế từ cổng ngõ, tường rào đến các chi tiết đầu đao, hổ phù, hoa lá. Thay vì có những biện pháp thiết thực, các đơn vị quản lý ngành văn hoá tìm mọi cách ngụy biện, hợp thức những việc làm mới di tích tràn lan này

Hình ảnh lộn xộn của phố cổ Hà Nội hiện nay
Phố cũ với các công trình công thự, biệt thự được xây dựng trong nửa đầu thế kỷ 20 bằng các tài liệu nghiên cứu quy hoạch bài bản- công phu, thiết kế kiến trúc tài hoa mẫu mực đã trở nên vô giá trị trước những dự án kinh doanh bất động sản đem lại món lợi quyến rũ.

Có muôn nẻo đường, muôn nẻo ngàn lý do để các dự án cao ốc tân tiến thay thế các ngôi nhà mang hơi thở của lịch sử hình thành Hà Nội. Không có thiết chế nào bảo vệ những trang sử thành phố bị xé rách một cách vô cảm. Có vài cuộc thi, những cuộc hội thảo, diễn thuyết lê thê oang oang trong phòng họp đóng kín, dăm ba bài báo bảo vệ di sản ồn ào mấy cũng chỉ là tiếng kêu yếu ớt giữa thinh không vô hạn.

Ngày 20/1/2010, Viện bảo tồn di tích- Bộ Văn hóa TT và DL tổ chức hội thảo chủ đề "Tính liên ngành trong bảo tồn di tích", có đề xuất công tác bảo tồn cần dựa vào cộng đồng. Vấn đề này có thực thi hay không phụ thuộc vào các cơ quan được giao nhiệm vụ bảo tồn của Bộ VH TT và DL.

Việc đầu tiên là các đơn vị này cần công bố toàn bộ hồ sơ hiện trạng di sản phải bảo tồn. Có hay không, thiếu hay đủ, cộng đồng sẽ bổ sung đóng góp. Có hồ sơ, cộng đồng mới so sánh, đánh giá và tham gia tích cực vào công việc giám sát  hoạt động bảo tồn. Nếu mà làm được như vậy, may ra chúng ta mới đảo ngược tình thế hiện trạng: Khi các di tích, di sản được khẩn trương "băm" ra thành các món lợi có thật thì bảo tồn mới dừng ở các khẩu hiệu hô hào suông.

Tác giả: Phạm Quỳnh Hương - Trần Minh Ngọc

Tài liệu tham khảo:

[1] Tư liệu về Thiếu Lâm Tự và Yên Tử trích dẫn bản tham luận "Vai trò, mối quan hệ của xây dựng chính sách trong việc bảo tồn di tích" của nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh Hương- Viện Xã Hội học.

[2]Tư liệu của France Mangin "Di tích lịch sử Hà Nội 1900-1930" và Tạp chí "Xưa và Nay" 6/2009.

nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-06-11-trang-page-4

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2010

100610- Gìn giữ nhà vườn cổ quý nhất Hà Nội

Có thể nói không quá rằng ngôi nhà cổ số 115 Hàng Bạc (cổng sau số 6 Đinh Liệt) là một niềm tự hào hiếm hoi còn sót lại trong “cơn bão” đập phá và cơi nới nhà cổ trong khu phố cũ Hà Nội.
 >>  “Số phận” nhà vườn cổ phụ thuộc vào... Thành phố

Chỉ còn vài tháng nữa là đến mốc lịch sử 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, trong rất nhiều, rất nhiều việc làm nhân dịp đại lễ này để bảo vệ cái “hồn” của thủ đô, việc lưu giữ lại những di sản của Hà Nội cho du khách thập phương, cho hậu thế sau này đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Chính vì thế mà đích thân chủ tịch UBND Hà Nội đã ký quyết định "giao cho UBND quận Hoàn Kiếm khẩn trương kiểm tra, chỉ đạo khắc phục vụ đục nhà vườn cổ" để từ đó có  phương án bảo vệ ngôi nhà, xây dựng nơi đây thành một trong những địa chỉ cho du khách tìm hiểu về một nét đẹp thuộc về Thăng Long - Hà Nội.
 
Đường vào ngôi nhà phải đi theo cổng sau, ngõ số 6 Đinh Liệt.

Lối vào ngôi nhà vườn cổ

Tiểu đảo giữa sân

Tầng 2, nơi cụ Tề, chủ nhân chính của ngôi nhà sinh sống.

Cho đến hôm nay, khu vệ sinh xây lấn khu vườn đã phá hỏng vẻ đẹp vốn có của ngôi nhà

Những chiếc khóa cửa từ thế kẻ trước vẫn được sử dụng

Cầu thang lên tầng 2

Cụ Tề, tuổi đã gần 100, chủ nhân ngôi nhà

Những bài nét bài trí trong nhà gợi nhớ về một Hà Nội xưa

Hà Nội những năm 50 thế kỷ trước?

Bộ ghế gỗ bóng nhẵn theo thời gian

Cửa sổ trong gian bếp nhà cụ Tề

Những chậu hoa cảnh trên lan can tầng 2

Lối lên gác ba với những cánh cửa kiểu cổ

Hoa văn trang trí trên cầu thang

Khoảng vườn trên gác 3

Khoảng vườn này trước kia rất nhiều ánh nắng nhưng gần đây các hộ xung quanh lên tầng nên đã tối tăm đi phần nào

Những người con cụ Tề phải thay bằng những loại cây sống khỏe, thích nghi với điều kiện sống mới

Những mái nhà lợp ngói trên tầng thượng

Mái đầu đao được trang trí trên tất cả các mái ngói

Những chi tiết trên đầu hồi của ngôi nhà cổ.

Việt Hưng

Chủ Nhật, 23 tháng 5, 2010

100523- Đảo Phục Sinh và sự lụn bại của phát triển kinh tế dựa vào việc bóc lột tài nguyên

 
 

Đảo Phục Sinh (Easter Island, còn gọi là Rapa Nui) nằm ở đông nam Thái Bình Dương vốn nổi tiếng về các tác phẩm điêu khắc đá khổng lồ có tên là moai

Đảo Phục Sinh (Easter Island, còn gọi là Rapa Nui) nằm ở đông nam Thái Bình Dương vốn nổi tiếng về các tác phẩm điêu khắc đá khổng lồ có tên là moai. Đây là các pho tượng người với những chiếc đầu khổng lồ so với các phần còn lại của cơ thể. Trong số các pho tượng moai đã hoàn thành và có thể di chuyển được, pho lớn nhất nặng tới 80 tấn. Một pho tượng đang được tạc dở dang còn nặng tới 270 tấn. Các pho tượng moai này được đặt rải rác ở khắp nơi trên đảo – cách xa so với mỏ khai thác đá nơi chúng được chế tác.

Khi mới được phát hiện, các tác phẩm này là một bí ẩn đối với thế giới. Người Âu phát hiện ra Rapa Nui vào khoảng thế kỷ thứ 18, khi đó dân số ước tính trên đảo này chỉ vào khoảng 3000 người. Điều khiến thế giới kinh ngạc là thổ dân ở đây không hề có một nền văn hóa đủ tầm để tạo ra các pho tượng này (họ không có các nghệ sĩ tạc tượng).

Thêm nữa, các pho tượng này đã được di chuyển đi rất xa so với nơi chúng được tạc. Điều này khó hiểu bởi vì với dân số nhỏ như vậy thổ dân không thể di chuyển các pho tượng khổng lồ, ít ra là không thể di chuyển nếu thiếu các công cụ như đòn bẩy, dây kéo và cây lăn. Trong khi đó, trên đảo Rapa Nui hầu như không có cây cối gì, vì thế không thể tạo ra được các công cụ giúp di chuyển các tượng moai. Chính thổ dân bản địa khi đó cũng tin rằng các pho tượng này đã tự mình đi khỏi khu mỏ đá để đến đứng trên các bờ biển.

Gần đây, các nghiên cứu khảo cổ và địa chất đã dần
giải mã được bí ẩn trên đảo Phục Sinh. Theo các khám phá này, đảo Phục Sinh từng được che phủ bởi các cánh rừng cọ dày đặc hồi năm 400 (theo công lịch) khi người Polynesian lần đầu đặt chân lên Rapa Nui.

Ngay sau khi tìm ra đảo này, người Polynesian đã bắt đầu khai thác nguồn tài nguyên quý giá nhất mà hòn đảo này có được – các rừng cọ. Gỗ được dùng để đóng thuyền đánh cá, để làm củi đốt, và chim muông trên đảo là nguồn thức ăn bổ sung ngoài cá. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy trong thời kỳ đầu này, dân số trên đảo tăng rất nhanh do nguồn lương thực phong phú mà các cánh rừng đem lại. Việc kiếm ăn dễ dàng cũng khiến người dân có thời gian cho các hoạt động văn hóa, bao gồm cả điêu khắc và di chuyển các pho tượng moai khổng lồ.

Theo các bằng chứng khảo cổ, phần lớn các tượng moai được tạc trong thời gian từ 1100 và chấm dứt hẳn vào khoảng năm1500 (công lịch). Các cánh rừng cọ đã biến mất vào khoảng năm 1400 (công lịch). Dân số của Rapa Nui đạt mức cao nhất vào khoảng năm 1400 (với số dân xấp xỉ 10,000 người), sau đó giảm dần tới mức chỉ còn khoảng 3000 người vào thế kỷ 18 như đã nói ở trên.

Các nhà khảo cổ còn tìm thấy những bằng chứng về chiến tranh và nạn ăn thịt người trong thế kỷ 16. Đây là các kết quả của các cánh rừng bị đốn trụi, không còn gỗ để đóng thuyền đánh cá, đất nông nghiệp cũng bị xói mòn còn chim muông thì cũng biến mất hết. Nền văn hóa của Rapa Nui đi vào chỗ lụn bại, còn kinh tế thì kiệt quệ trong khi dân số tụt giảm dần do nạn đói và chiến tranh.

Người Polynesian đã phạm phải sai lầm gì? Về nguyên tắc, vì rừng cọ là một nguồn tài nguyên có khả năng tự tái tạo, người Polynesian có thể sống hòa thuận với thiên nhiên mà họ có. Khi dân số tăng nhanh hơn tốc độ tăng của tài nguyên thì lượng tài nguyên thu hoạch được theo đầu người sẽ giảm, dẫn tới tốc độ tăng dân số giảm đi. Điều này lại làm giảm sức ép đối với tài nguyên và tạo cơ hội cho tài nguyên tiếp tục tái tạo. Mối quan hệ cân bằng này, về nguyên tắc, có thể làm cho đảo Phục Sinh duy trì được một quy mô dân số ổn định chứ không đi đến chỗ gần như tuyệt diệt như đã thấy trong lịch sử.

Thêm vào đó, nếu người Polynesian có thể đạt được những tiến bộ công nghệ thì họ sẽ có năng suất sản xuất tăng dần theo thời gian, điều này làm họ bớt lệ thuộc hơn vào tài nguyên. Và vì thế có thể giúp cho nền văn minh của họ phát triển và thịnh vượng.

Thế nhưng rõ ràng là không có tiến bộ khoa học kỹ thuật nào trên đảo Phục Sinh trong suốt hơn một ngàn năm. Bên cạnh đó, các rừng cọ trên đảo Phục Sinh lại thuộc loại cọ Jubea Chilensis – là loại cọ có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trên thế giới. Mỗi cây cọ này cần 40 tới 60 năm để trưởng thành (trong khi các loại cọ khác như Coconut Palm chỉ cần 7 tới 10 năm).

Theo hai kinh tế gia James Brander và Scott Taylor, tốc độ tăng trưởng quá chậm của nguồn tài nguyên tái tạo này (và việc không có tiến bộ công nghệ) đã dẫn tới chỗ các nguồn tài nguyên  không thể điều chỉnh kịp với tốc độ tăng dân số và vì thế đã dẫn tới thảm họa văn minh trên đảo Phục Sinh.

Trường hợp đảo Phục Sinh là một sự thật lịch sử, vì thế nó là một bài học to lớn đối với các nền kinh tế phát triển dựa vào việc bóc lột tài nguyên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không thể tái tạo.

Những nước nghèo và lạc hậu như Việt Nam buộc phải dựa vào việc bóc lột tài nguyên để tăng trưởng, tuy nhiên VN phải hiểu rằng chúng ta chỉ có duy nhất một cơ hội để làm đúng. Nếu phung phí các nguồn tài nguyên không thể tái tạo vốn rất ít ỏi của dân tộc  trong khi không thể đổi mới cơ cấu kinh tế và nâng cao năng suất lao động thì chúng ta sẽ đánh mất cơ hội duy nhất mà chúng ta có được để phát triển.

Những nhà lãnh đạo quốc gia có trọng trách ra các quyết sách về khai thác tài nguyên cần phải hiểu rằng họ đang gánh vác trách nhiệm lịch sử đối với tương lai lâu dài của cả dân tộc trong mỗi phán quyết của mình

Trần Vinh Dự  

nguồn: http://www1.voanews.com/vietnamese/blogs/du/a-19-2010-

01-08-voa38-82748987.html

Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2010

100523- Lúng túng bảo tồn phố cổ

Không chỉ thiếu sự tham gia của người dân, việc bảo tồn phố cổ Hà Nội còn thiếu một hành lang pháp lý

Hội thảo quốc tế về bảo tồn phố cổ Hà Nội đã được Đại sứ quán Ý tổ chức hôm qua, 21-5, tại Hà Nội trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.


Sau hàng chục năm bảo tồn nhưng phố cổ Hà Nội vẫn còn nhếch nhác. Ảnh: YẾN ANH

Kinh nghiệm từ Genova

Kiến trúc sư (KTS) Giorgio Parodi - Chủ tịch Hội Kiến trúc sư TP Genova (Ý), người đã có một bài viết về Ô Quan Chưởng Hà Nội đăng trên một tờ báo lớn ở Ý - cho biết để Genova (nơi có các khu phố cổ ở Ý được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2006) trở thành một bảo tàng sống, cả chính quyền lẫn người dân ở đó đã phải mất 20 năm nỗ lực tôn tạo và bảo tồn. 20 năm trước, Genova cũng phải đối mặt với những vấn đề như phố cổ Hà Nội bây giờ, cũng “đau đầu” để tìm ra kế sách hài hòa giữa bảo tồn, phát triển và chìa khóa cho sự thành công của Genova chính là sự ủng hộ tích cực của người dân.

Kinh nghiệm của TP này là không bảo tồn toàn bộ TP mà chỉ chọn ra 48 công trình cổ có giá trị nhất đưa vào danh sách đặc biệt. Số còn lại, tùy theo giá trị kiến trúc mà có những biện pháp hỗ trợ từ phía chính quyền. Theo KTS Giorgio Parodi, nhận thức được lợi ích từ việc bảo tồn, ở nhiều con phố, người dân tự bỏ tiền ra tu bổ mà không chờ chính quyền hỗ trợ.

Việc bảo tồn Genova được thực hiện cẩn thận, bảo tồn đến đâu, xây dựng cơ sở dữ liệu đến đó. Các hộ gia đình tự bỏ tiền ra tu bổ cũng phải theo chuẩn của bảo tồn và sự giám sát của chính quyền và Hội Kiến trúc sư TP. Các nhà máy, xí nghiệp trong TP phải di chuyển ra khỏi khu phố cổ...

Loay hoay trên giấy


KTS Đào Ngọc Nghiêm, nguyên giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP Hà Nội, khẳng định khi đánh giá về giá trị của khu phố cổ Hà Nội, tất cả các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều có chung nhận định: Đây là khu phố đặc trưng với cấu trúc đô thị cổ phong kiến, dù đã qua chặng đường phát triển dài với bao thăng trầm nhưng vẫn giữ được tổng thể.

Tuy nhiên, gần 20 năm qua, Hà Nội vẫn cứ loay hoay tìm đường bảo tồn và quá lúng túng giữa việc gắn kết không gian tổng thể và từng kiến trúc đặc trưng. Từ năm 1995, Hà Nội đã bàn đến chuyện bảo tồn phố cổ. Từ đó cho đến nay, không biết đã có bao nhiêu dự án, bao nhiêu quy hoạch về khu phố cổ này được xây dựng nhưng tất cả chỉ dừng trên giấy.

Nguyên nhân do những quy hoạch phố cổ trước đây đều đi chậm hơn so với sự phát triển của xã hội. KTS Nghiêm nhấn mạnh: Hà Nội quá lúng túng trong các phương án bảo tồn, ngay cả việc thống kê có bao nhiêu ngôi nhà cổ có giá trị để đưa vào danh sách bảo tồn cũng thay đổi qua từng năm, số di tích ở khu phố cổ qua từng năm cũng không giống nhau như năm 1995 chỉ có 24 di tích nhưng đến 2008, con số này đã lên tới 104 và năm 2009, số di tích cần được bảo tồn ở Hà Nội vọt lên 121.

Theo gợi ý của các KTS đến từ Genova, việc bảo tồn phố cổ cần có sự kết hợp tổng thể giữa không gian chung, giữa vật thể và phi vật thể như lễ hội, không gian sống..., giữa kiến trúc truyền thống kết hợp khai thác các yếu tố mới. Bên cạnh đó, cần tuân thủ các tiêu chí như giữ gìn phong cách kiến trúc cổ, cải tạo hạ tầng, thí điểm làm một vài nhà, một vài ô phố, tuyến phố...

Theo KTS Đào Ngọc Nghiêm, một số vấn đề mà các KTS người Ý đưa ra, Hà Nội cũng đã làm nhưng không thành công vì không được người dân tham gia. Tất cả các dự án bảo tồn từ trước tới nay, những chủ thể của phố cổ vẫn đứng “ngoài cuộc”. Thêm vào đó, dẫu có nhiều văn bản pháp quy nhưng việc tu bổ, tôn tạo phố cổ Hà Nội vẫn thiếu một hành lang pháp lý, nên các dự án tôn tạo phố cổ vẫn loay hoay trên giấy.

Lan Hoàng

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

100503- Nhà cổ “Người tình” thành di tích quốc gia

 Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp vừa tiếp nhận bằng di tích lịch sử cấp quốc gia cho ngôi nhà cổ Huỳnh Thủy Lê - còn gọi là nhà cổ " Người tình" (ở phường 2, thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp) do Bộ Văn hóa Thông Tin và Du lịch cấp.

Nhà cổ " Người tình" có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, kiến trúc nhà ở giai đoạn thế kỷ XIX của Đồng Tháp nói riêng và Nam bộ nói chung. Nhà được xây dựng bằng gỗ vào năm 1895, đến năm 1917 trùng tu lại bằng gạch, vôi, ô dước theo lối kiến trúc Đông – Tây kết hợp.




Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê - nhà cổ "Người tình"

Đây là loại nhà ba gian truyền thống người Việt nhưng trang trí bên trong theo kiểu người Hoa. Toàn bộ ngôi nhà được xây dựng trên diện tích 258 mét vuông, mặt tiền nhà trang trí bằng hoa văn cây cỏ, chim muông tượng trưng cho bốn mùa. Giữa đại sảnh nhà chính thờ Quan Công và trưng bày các loại tủ, giường, bàn thờ cẩn xà cừ tinh xảo.

Trước đây, ngôi nhà vốn là nơi ở của gia đình ông Huỳnh Thủy Lê - người tình đầu tiên của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras, tác giả quyển sách nửa tự truyện “L’Amant” (Người tình).


Ông Huỳnh Thủy Lê

Sau khi ông Huỳnh Thủy Lê mất năm 1972, gia đình ông định cư ở nước ngoài, ngôi nhà gần như bỏ hoang. Sau năm 1975, ngôi nhà được Nhà nước sử dụng làm trụ sở làm việc của một đơn vị Công an.

Năm 2007, Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Tháp tiếp nhận ngôi nhà và đưa vào khai thác du lịch với tour “Theo dấu chân người tình”. Mỗi ngày trung bình có 1.000 lượt du khách đến tham quan nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, trong đó 50% là người Pháp, còn lại là Mỹ, Nhật, Đức , Anh…


Một cảnh trong phim "Người tình" (L'Amant) năm 1992 của đạo diễn người Pháp Jean-Jaques Annaud

B.Vy (Tổng hợp)

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2010

100428- 'Không thể nói tân trang làm mất nét duyên phố cổ'

"Nếu nói việc tân trang làm mất nét duyên của phố cổ, thì tôi xin hỏi như thế nào là duyên? Tháp Eiffel khi mới xây dựng bị coi là quái vật nhưng đến nay là kỳ quan", ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Ban chỉnh trang đô thị Hà Nội nói.
> Hà Nội thành đại công trường đào lát vỉa hè/ Hà Nội 'tân trang' phố cổ

- Việc chỉnh trang đô thị của Hà Nội đang nhận được những ý kiến trái chiều, đặc biệt là khu vực phố cổ. Thưa ông, việc chỉnh trang này dựa trên những tiêu chí nào?

- Thành phố đã chỉ đạo, dịp kỷ niệm 1.000 năm những địa chỉ nào cần thiết mới chỉnh trang, dựa trên đánh giá khảo sát hiện trạng của các sở ngành. Với khu vực phố cổ, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch Kiến trúc thống nhất màu sơn trên các tuyến phố với tiêu chí không đưa màu phản cảm. Người dân tự sơn vôi nhà cửa của mình trên cơ sở các màu sơn đã có. Các nhà cổ kính cũng không được áp đặt màu sắc mà dựa theo màu sơn cũ, tường tróc vữa, nhếch nhách thì trát lại.

Nếu nói việc tân trang làm mất đi nét duyên của phố cổ, thì tôi xin hỏi như thế nào là duyên? Quận Hoàn Kiếm làm tương đối tốt việc tân trang. Tháp Eiffel khi mới xây dựng bị coi là quái vật nhưng đến nay được coi là kỳ quan.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc ban chỉnh trang đô thị Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hưng.

- Nhiều ý kiến cho rằng tháp nước Hàng Đậu cần giữ nguyên nét cổ kính mới có giá trị lịch sử. Quan điểm của ông thế nào?

- Tháp nước Hàng Đậu là công trình có giá trị văn hóa lịch sử song đã xuống cấp, bong tróc vữa, gạch xây đã mòn ở tầng 3. Đơn vị tư vấn đánh giá hư hỏng cần được được sửa chữa lại. Công trình này được tôn tạo lại để trở thành điểm văn hóa, tạo mối liên kết giữa Hàng Ngang - Hàng Đào đến Hàng Giấy - Tháp nước, tạo điểm dừng thu hút khách du lịch và tuyến phố đi bộ.

Vỉa hè tại đây lát đã lâu, các sở ngành thẩm định và có ý kiến phải thay thế. Kinh phí cho dự án cải tạo tháp nước Hàng Đậu chỉ là trên 3 tỷ đồng.
Lăn sơn nhà mặt phố cổ. Ảnh: Khánh Chi.

- Ông lý giải ra sao khi nhiều khu vực vỉa hè mới được lát xong nay lát lại bằng các chất liệu đắt tiền nhưng dễ trơn trượt?

- Nhiều đoạn vỉa hè như đường Thanh Niên đã hỏng, khu tượng đài Lê Nin lát bằng gạch lá dừa đã xuống cấp nên thành phố không thể để nhếch nhác mãi. Còn chuyện lát đá xanh khu vực hồ Hoàn Kiếm có thể gây trơn trượt thì cũng có nhiều ý kiến. Tuy nhiên, quảng trường Lý Thái Tổ lát bằng đá xanh đã được đa số người dân tán đồng.

- Trong khi Hà Nội còn cần nhiều kinh phí đầu tư cho các dự án dân sinh, ông nghĩ gì khi hàng trăm tỷ đồng ngân sách được huy động để chỉnh trang các tuyến phố?

- Đúng là thành phố đang phải cân đối ngân sách để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, giao thông đô thị, xóa đói giảm nghèo, cấp nước sạch... Có những việc chưa thể làm ngay do thiếu ngân sách.

Tuy nhiên, chỉnh trang thành phố là việc quan trọng để đón thủ đô nghìn năm tuổi, đón bạn bè năm châu, cũng như một gia đình có việc đón khách phải sửa chữa chỉnh trang lại nhà cửa.

- Là cơ quan giám sát, đôn đốc các dự án chỉnh trang, ông thấy có những sai sót gì trong quá trình thi công các dự án?

- Đến nay tôi mới chỉ phải đôn đốc tiến độ, chưa phát hiện sai phạm của các dự án. Nếu có sai phạm thì đơn vị chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm với lãnh đạo thành phố.

Đoàn Loan - Nguyễn Hưng

nguồn: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/04/3BA1B4B4/

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

100422- Không có phố cổ, chỉ có phố cũ

Phố cổ Hà Nội chưa bao giờ nằm trong danh sách dự kiến trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vì nhiều lý do khác nhau.

Phó cục trưởng Cục Di sản (Bộ VH-TT&DL) Lê Thị Minh Lý và KTS Hoàng Đạo Kính - phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư VN, chủ tịch hội đồng chuyên môn của Hội Kiến trúc sư VN, người đã tham gia lập hồ sơ di sản cho Hội An, Huế và Mỹ Sơn - đều khẳng định như thế trước thông tin “phố cổ Hà Nội không được công nhận di sản văn hóa thế giới” mà một vài tờ báo vừa loan tin.

Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý (phó cục trưởng Cục Di sản): Chưa bao giờ trình hồ sơ đề nghị công nhận di sản cho phố cổ Hà Nội

Trước hết, tôi có thể khẳng định thông tin “phố cổ Hà Nội bị từ chối công nhận di sản văn hóa thế giới” là hoàn toàn vô căn cứ. Đơn giản vì VN chưa bao giờ trình hồ sơ đề nghị công nhận di sản cho phố cổ, thậm chí phố cổ Hà Nội chưa hề nằm trong danh sách dự kiến.

Thông lệ của UNESCO là đối với di sản vật thể, mỗi năm chỉ xét công nhận một lần, mỗi lần không quá hai di sản. Năm nay, chúng ta đã bảo vệ thành công việc công nhận di sản cho bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Và trọng tâm nhất của việc vận động công nhận di sản VN năm nay nằm ở cuộc xét duyệt vào tháng 7-2010: chúng tôi đang hết sức nỗ lực cho việc trình và xét duyệt công nhận di tích Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới.

Một ngôi nhà cổ trên phố Lương Văn Can, khu phố cổ Hà Nội (ảnh trái) và Hà Nội đang tân trang cho phố cổ bằng màu vôi mới - Ảnh: Vi An

Hoàng thành Thăng Long đã có quy hoạch tổng thể tốt, đang được bảo tồn nguyên trạng và đã có phương án bảo tồn trong tương lai. Để hoàn thành hồ sơ này, VN đã chủ động mời chuyên gia tư vấn nước ngoài tham gia quá trình đánh giá hiện trạng, lập hồ sơ di sản cũng như tham gia hoạt động bảo tồn. Việc lập hồ sơ kéo dài 4-5 năm và khi trình UNESCO phải được sự đồng ý của Chính phủ.

- Vậy thưa bà, phố cổ Hà Nội thiếu yếu tố gì mà chưa được lọt vào danh sách VN dự kiến trình UNESCO công nhận di sản?

- Phố cổ Hà Nội là một di sản văn hóa có giá trị nhưng chưa đạt những tiêu chuẩn tôi vừa nêu. Vì vậy trong thời gian trước mắt Cục Di sản và Ủy ban UNESCO VN chưa có ý định đưa phố cổ Hà Nội vào danh sách “chờ”.

Trình hồ sơ thì phải nắm chắc thắng. Nhưng phố cổ Hà Nội là một địa bàn quá phức tạp, một khu vực đang phát triển rất mạnh về kinh tế và chịu sức ép rất lớn về mật độ dân số. Đến thời điểm hiện tại, Hà Nội vẫn chưa đưa ra được quy hoạch tổng thể về bảo tồn và phát triển phố cổ. Vì vậy chưa thể nói đến việc đưa vào danh sách dự kiến trình UNESCO công nhận di sản được.

TS-KTS Hoàng Đạo Kính (phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư VN, chuyên gia bảo tồn): Chỉ cần chúng ta giữ lại hồn phố, hồn người Hà Nội

- Hà Nội không có phố cổ, chỉ có phố cũ. Tôi đã phát biểu điều này trên rất nhiều diễn đàn từ hàng chục năm nay, nhưng người ta quá say sưa với từ “phố cổ” để cố tình quên đi một sự thật: những ngôi nhà trên khu 36 phố phường Hà Nội tuổi tác chỉ trên dưới 100 năm, chỉ đủ để gọi là cũ, chứ không gọi là cổ.

Cũng vì vậy, đã nhiều lần Hội Kiến trúc sư VN kêu gọi nhanh chóng có một quy hoạch tổng thể cho phố cũ Hà Nội: lập hồ sơ những kiến trúc giá trị cần bảo tồn như những ngôi nhà cổ ở Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Mã Mây, đền, chùa, đình, miếu..., lập kế hoạch giãn dân, giảm tải cho khu trung tâm.

Đồng thời chỗ nào không “nhạy cảm” thì cho dân sửa chữa, cải tạo để nâng cao mức sống, chứ với cảnh một đại gia đình bốn thế hệ gần 20 con người ở trong một phòng chưa đầy 20m2, nhà vệ sinh công cộng dùng chung với 6-7 hộ khác... thì làm sao nói đến chuyện bảo tồn vẻ đẹp phố cổ.

Nhưng thưa ông, như vậy không có nghĩa phố cổ kém giá trị văn hóa kiến trúc. Vì chính ông trên nhiều diễn đàn khác nhau đã lên tiếng ca ngợi vẻ đẹp Hà Nội 36 phố phường?

- Tôi chỉ nói nó không cổ, chứ đâu có nói nó không đẹp. Phố cũ Hà Nội cực kỳ đẹp ở lối sống, tinh thần, hơi thở của nó. Phải hiểu được điều đó mới thấy phố cũ Hà Nội đẹp. Kiến trúc của nó cũng vậy: không to tát, hoành tráng, tinh xảo nhưng sâu sắc, thâm trầm, kín đáo, duyên dáng và rất thích hợp với quỹ đất, môi trường, khí hậu Hà Nội xưa.

Bởi vậy tôi đã nhiều lần kêu gọi Hà Nội và UNESCO VN đừng cố gắng đưa phố cổ vào danh sách công nhận di sản UNESCO. Thế giới có những tiêu chí riêng của họ để đánh giá và công nhận. Phố cũ của chúng ta không đủ “cổ”, công trình không đủ quy mô, quy hoạch chưa thống nhất..., không thể được công nhận di sản thế giới. Nhưng hàng triệu người nước ngoài, người VN từ Nam ra, miền ngược về... đều đã say mê phố cũ dù nó còn chật chội, lộn xộn, thậm chí nhem nhuốc, nhếch nhác. Điều đó chẳng đáng quý hơn sao?

Chỉ cần chúng ta giữ lại hồn phố, hồn người Hà Nội, bớt cái lem nhem, lộn xộn thì phố cũ vẫn là một giá trị vật thể và tinh thần của VN. Chỉ có điều đừng xóa cái lem nhem cũ bằng việc bôi vôi, quét sơn Tây lên mặt tiền nhà xưa! Hà Nội đang “tích cực” tân trang bằng sơn cạo, vôi ve. Như vậy, thậm chí phố cũ còn chả giữ được cái cũ, nói gì đến “cổ” hay di sản văn hóa thế giới!

Theo Thu Hà- Tuổi trẻ

nguồn:http://tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xahoi/440663/index.html

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

100402- Mòn mỏi chờ bảo tồn

Đến bao giờ trên 1.000 công trình nhà ở có giá trị ở phố cổ Hà Nội mới được tu bổ, tôn tạo và người dân ở đó được nâng cao điều kiện sống?

Đã hơn 20 năm nay, vấn đề bảo tồn phố cổ được đặt ra cấp thiết. Nhiều dự án đã được lập nhưng hiệu quả cũng chưa được bao nhiêu. Ở thời điểm hiện tại, có vẻ như vấn đề bảo tồn lại đang trở về vạch xuất phát khi các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kiến trúc và quy hoạch vẫn loay hoay tìm câu trả lời: Bảo tồn cách nào?


Chưa có lời giải

Từ năm 2007, nhóm các nhà nghiên cứu Nhật Bản đến từ 3 trường đại học gồm Đại học Chiba, Đại học Nữ Chiêu Hòa và Đại học Tổng hợp Tokyo bắt đầu có những nghiên cứu về phố cổ Hà Nội.
Theo GS-TS Furukawa Yuchi, Đại học Chiba, câu hỏi “bảo tồn cái gì và tại sao phải bảo tồn” thì đã quá rõ ràng nhưng “bảo tồn cách nào” thì cho tới nay vẫn chưa có lời giải đáp một cách thấu đáo. Để trả lời cho câu hỏi này, hơn 3 năm qua, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã cùng Viện Quy hoạch Kiến trúc đô thị- Đại học Xây dựng chọn ô phố Hàng Buồm - Hàng Giày - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến làm thí điểm.

Một góc phố Hàng Đường

Tại đây, nhóm nghiên cứu đo vẽ, phân tích các giá trị kiến trúc và không gian các ngôi nhà cổ trên phố, kết hợp điều tra xã hội học.
Lý giải cho việc làm tỉ mỉ này, GS Fukukawa Yuchi - trưởng đoàn nghiên cứu - cho rằng đã qua rồi cái thời chỉ quan tâm tới những cái tổng thể mà quên mất những chi tiết nhỏ, bởi bảo tồn văn hóa không thể tiếp cận một cách xa vời được. Phải gần với cuộc sống của người dân để hiểu người dân đang sống như thế nào, từ đó tìm ra nguyên tắc sống.


Dự án vẫn cứ là dự án

Cuối tháng 2 vừa qua, thêm một sự việc đáng tiếc nữa xảy ra khi ngôi nhà số 47 Hàng Bạc - một trong những ngôi nhà cổ được cho là giá trị nhất của  Hà Nội - đã bị hỏa hoạn. Một gian của ngôi nhà, phần tập trung nhiều cấu kiện gỗ có giá trị nhất, đã cháy rụi.

Ngay sau khi sự việc này xảy ra, đã có nhiều câu hỏi xoay quanh tiến độ bảo tồn được đặt ra cho Hà Nội. Tại sao trong suốt 20 năm nghiên cứu, vấn đề bảo tồn vẫn chỉ dừng ở... các dự án và một vài thí điểm như ngôi nhà 38 Hàng Đào, 87 Mã Mây và gần đây là 51 Hàng Bạc.
Nếu cứ tốc độ này, bao giờ trên 1.000 công trình nhà ở có giá trị như Ban Quản lý phố cổ Hà Nội thống kê mới được tu bổ, tôn tạo và đến khi nào người dân phố cổ mới được nâng cao điều kiện sống?


Hiện có thêm nhiều dự án nữa được Ban Quản lý phố cổ triển khai ở đây, như việc lập điều chỉnh quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử của khu phố cổ, tiếp nữa là dự án dãn dân. Dự án này nhằm giảm tải cho phố cổ bằng việc đưa  một số hộ dân đến nơi ở mới là khu đô thị Việt Hưng. Theo chủ trương của TP Hà Nội, đây sẽ là khu đô thị mang đặc thù của người dân phố cổ.

Là một di tích quốc gia nhưng phố cổ Hà Nội lại là một di tích sống, trong phạm vi 10 phường thuộc quận Hoàn Kiếm, có tới 84.000 dân. Đây cũng là nơi có mật độ dân cư cao nhất trong cả nước. Vẫn biết, công việc bảo tồn phố cổ Hà Nội không phải một sớm một chiều. Cái cần là sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền. Và điều này, Hà Nội cần học kinh nghiệm từ Hội An.

Chất lượng sống quá thấp

Theo những điều tra của TS Utsumi Sawako, Đại học Nữ Chiêu Hòa - Nhật Bản, trong 102 ngôi nhà ở phố cổ Hà Nội được chọn ngẫu nhiên để tìm hiểu, chỉ có 44 gia đình có nhà vệ sinh riêng, số còn lại phải dùng chung với gia đình khác, đồng nghĩa với việc điều kiện vệ sinh cũng không được bảo đảm. 42 gia đình phải dùng chung nhà tắm và chỉ có 83 gia đình có bếp riêng...

Giải pháp được đưa ra là nếu trong một số nhà, không có hộ dân nào chấp thuận chuyển ra ngoài sống thì khi cải tạo, mặt ngoài ngôi nhà sẽ được giữ nguyên, bên trong có thể xây thêm tầng, nới rộng không gian sống, cùng với việc bán các căn phòng này sẽ là nguồn thu cho việc cải tạo nhà.

Tiêu chí đầu tiên cho đề xuất cải tạo là đưa màu xanh trở lại với ngôi nhà bằng cách tạo một khoảng sân vườn nhỏ phía giữa lớp nhà thứ 1 và thứ 2.
Trong quá trình cải tạo, cũng phải xác định rõ nhà nào là di sản, để từ đó Nhà nước hỗ trợ kinh phí tu bổ theo từng mức. Những giải pháp này đã từng được Nhật Bản áp dụng trong việc cải tạo lại tuyến phố cổ Takamasu, đây là tuyến phố buôn bán giống với Hàng Buồm.

Bài và ảnh: Lan Hoàng