Hiển thị các bài đăng có nhãn tưduy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tưduy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Tư duy theo mặt bằng

Bạn vừa cất một căn nhà. Nếu bạn thổ lộ với người Mỹ, người Mỹ sẽ hỏi bạn đã xoay sở với chi phí, các khoản vay, thậm chí tiền bảo hiểm của ngôi nhà ra sao. Trong khi đó, một người Nhật sẽ quan tâm liệu ngôi nhà có ở trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai hay không, kết cấu rung lắc đến đâu. Người Ý sẽ tò mò về việc bạn chọn nội thất trang hoàng theo phong cách nào, trong nhà có bao nhiêu món đồ cổ. Người Ba Tư sẽ gợi ý nền nhà được trải bằng loại thảm gì, màn cửa sổ nên treo chọn màu và hoạ tiết gì. Người Pháp sẽ muốn biết kiến trúc sư thiết kế xuất thân từ đâu, anh ta thích loại rượu vang nào. Trong khi đó, người Trung Quốc thì sẽ dò hỏi xem hàng xóm của bạn có phải là người Hoa hay không và khoảng cách từ Chinatown đến nhà bạn bao xa…

Rất dễ cho bạn nếu người đối diện là dân Việt Nam. Vì bạn chỉ cần nhớ chính xác diện tích sử dụng của căn nhà là đủ.

Người Việt Nam tư duy ngôi nhà theo mét vuông, tức, mặt bằng sử dụng. Điều này không phải nguyên do từ sự yếu kém về bộ môn hình học không gian. Tư duy được hình thành từ quá trình văn hoá, văn minh, lịch sử. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh. Ngàn năm binh lửa ngoại xâm, nội chiến đã cho người Việt sự nhận thức cao về lãnh thổ, đất đai, là thứ không thể nhượng bộ cho giặc – “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “một tấc không đi một ly không rời”. Trong nền văn minh nông nghiệp, đất đai cũng là tư liệu sản xuất, đảm bảo đời sống, đem lại sự ấm no đủ đầy, cho nên, tấc đất tấc vàng.

Có lẽ tư duy theo mét vuông tiếp tục là nếp nghĩ trong thời hiện đại. Đặc biệt trong quá trình đô thị hoá, bất động sản trở thành một thị trường đầy sôi động càng khiến người ta quá bận tâm xử lý mặt bằng nhưng lại thiếu những chăm chút cho giá trị tinh thần. Nói như TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn, là đặt sai hệ quy chiếu lợi ích: “Lợi ích địa ốc cao nhất không phải lúc nào cũng chỉ đạt được nhờ vào tư duy mét vuông (thiên về số lượng mét vuông) như người ta thường lầm tưởng, mà còn có thể nhờ vào tư duy giá trị sống (thiên về “chất lượng” mét vuông).

Với tư duy mét vuông, nhà đầu tư thường hy sinh bớt các chỉ tiêu về chất lượng sống, như thu hẹp diện tích cây xanh, xây dựng quá dày đặc làm giảm sự riêng tư vì căn hộ thường bị các căn hộ khác nhìn thẳng vào và giảm sự yên tĩnh do tác nhân ồn và sự chung đụng với các hộ lân cận gia tăng. Người ta thường không thấy rằng công trình thấp tầng và mật độ xây dựng thấp mới là cao cấp nhất, chứ không phải công trình cao tầng”. Từ đây, có thể thấy được nguyên nhân sâu xa của việc đánh mất bản sắc đô thị đang diễn ra tại Hà Nội, TP.HCM.

Tư duy mét vuông cũng tạo ra những “biến chứng” khó chịu trong lối ứng xử với không gian sống của người dân, nó ít nhiều khống chế đời sống văn minh ở. Ý thức công năng sử dụng (chứ không phải sở hữu) đã làm suy giảm sự gắn bó cội rễ giữa con người với không gian sống nói riêng và hồn vía đất đai nói chung. Mặt khác, sự cắt rời không gian sử dụng ngôi nhà với không gian công cộng đã làm nảy sinh tâm lý thực dụng trong ứng xử văn hoá công cộng. Người Việt xem không gian công cộng là thứ “cha chung không ai khóc” nên khi cần thì lấn chiếm, lúc không cần thì tha hồ gây ô nhiễm bằng các hình thức khác nhau.

Một trong những điều nữa thể hiện tư duy mặt bằng đó chính là sự thiếu quan tâm đến những thiết kế đa dạng về không gian sống trong chính ngôi nhà mà chỉ quan tâm đến độ rộng, hẹp. Để là gì? Tôi tình cờ tìm thấy phần gợi ý cho câu trả lời trên ở phần Góp ý cho cuốn Văn minh vật chất của người Việt (Phan Cẩm Thượng, NXB Tri thức 2011), hoạ sĩ Phan Bảo, một trong những nhà nghiên cứu am hiểu về đời sống vật chất của người Việt ở đồng bằng sông Mã, vùng đất có nhiều di chỉ văn hoá cội nguồn người Việt cổ: “Ở xứ Việt ta, nhà cửa chỉ có một công năng: là nơi trú ngụ nói chung. Nhà ở có thể làm đình chùa, đền tạ và đình chùa đền tạ cũng có thể làm nhà ở về mặt kiến trúc (trừ hai món nhập khẩu là tháp và nhà thờ Thiên Chúa giáo). Hàng nghìn năm đi học đi thi mà cái nhà trường cũng chỉ là cái nhà ở ngã cửa ván ra hoặc trải chiếu nằm xuống mà viết. Có lẽ chỉ có kẻ sĩ Việt Nam là nằm bò toài ra mà viết, mà học, xong rồi có thể lăn quay ra ngủ luôn (xem Lều chõng của Ngô Tất Tố). Nhà Nho ta ư? Ăn cơm, viết sách, nghe hát và ngủ với cô đầu chỉ loanh quanh trên một chiếc chiếu. Vậy ở đâu trải chiếu thì ở đấy có đủ mọi chuyện. Vào chùa lấy chiếu chùa ra ta ngồi. Vậy cái nhà Việt Nam thật tối giản: trên có mái, dưới có nền (trong Nam bộ lại còn không có cả nền cao, nền nhà, nền sân, nền đường, nền vườn bằng nhau), chung quanh để trống, chỉ có mùa rét mới lấy liếp che lại, ở giữa trải chiếu, thế là xong. Nhà to hơn tức là nhà dài hơn vì chắp thêm gian (quy chế chính: 1 gian, 2 gian, 3 gian,… 11 gian, 13 gian là cung vua phủ chúa rồi). Tại sao ông tiến sĩ lại ngồi ghế chéo (Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ – thơ Nguyễn Khuyến)? Bởi vì ghế ấy cũng chỉ là tạ thôi, ông tiến sĩ về nhà với cha mẹ thì ngồi chiếu trải lên đất, lên công đường thì ngồi chiếu trải lên sạp, vua cũng thế thôi (vua Lê Cảnh Hưng bảo Nguyễn Huệ ngồi ghé lên sạp với mình – xem Hoàng Lê nhất thống chí). Vì thế, xem kiến trúc Việt Nam có gì mới lạ không thì xem chạm chắc ở mấy chỗ kẻ bẩy, tức bàn tay có nóc mái vậy. Có điều, ngói của đền miếu rất to nặng, đó là do ý muốn chống gió bão lật mái đấy. Nhà trống tha hồ cho gió lùa. Cơn bão năm 1905 ở Huế lật cả cầu Tràng Tiền mới làm xuống sông mà Ngọ Môn vẫn y nguyên chẳng sao cả.

Theo tôi, nghệ thuật kiến trúc không phải là nghệ thuật chạm khắc hay sơn vẽ. Và ta nên tách các món này ra.

Nhà sàn chẳng qua chỉ là một ngôi nhà có cái đặc biệt hơn mà thôi, Nó cũng là nhà tầng. Nhà cửa Việt Nam chuộng bóng tối là vì người ta chẳng cần ánh sáng nhiều làm gì. Phải chăng cần nhìn rõ các tượng Phật Thánh? Muốn đọc sách thì ra ngoài hiên rồi. Ngày nay có nhiều nhà hiện đại cao to (nhà dân dụng) nhưng cũng chẳng để làm gì ngoài chuyện đi ngủ, vậy nhà cửa đóng im ỉm suốt ngày có khách thì mời đi quán. Các ông hoạ sĩ mới đòi nhà sáng sủa thôi. Nhà dân nông thôn Việt Nam ta rất cần cái sân trước cửa, không phải chỉ để phơi phóng các thứ mà tiện dụng hàng ngày. Uống rượu buổi chiều ư? Trải chiếu ngoài sân. Nhà có đám ư? Dựng rạp ngoài sân. Do đó, sân này phải khô cứng và trống thoáng. Điều đó dẫn đến kết cấu nhà có hiên bè rất rộng, mỗi kẻ bẩy ra một khoảng kẻ nữa tức hè tính từ cột con ra rộng hơn 2m.

Công năng sử dụng nhà đơn giản, cho nên kiến trúc tối giản và đơn điệu. Trong kho tàng thành ngữ để chỉ người giàu kẻ nghèo trong xã hội đã có thấp thoáng cái tư duy về kiến trúc: gia cảnh nghèo thì gọi là “nhà ổ chuột”, “nhà rách vách nát”, “nhà xiêu vách đổ”, “nhà dột cột xiêu”, “nhà tranh đố sậy”, còn để chỉ những kẻ giàu có trong xã hội, thì: “kín cổng cao tường”, “nhà cao cửa rộng”, “nhà vàng gác tía”… Và vẫn với tư duy trọng về chất liệu và mặt bằng đó, người Việt mở rộng cách nói về những không gian sống rộng hơn ngôi nhà như sau: thường dùng thành ngữ “màn trời chiếu đất” để chỉ cảnh tiêu điều khốn khổ sau những trận thiên tai, địch hoạ, hay “nhà ngang dãy dọc” để chỉ sự giàu có của một cơ nghiệp hoặc sự khá giả sầm uất của một khu dân cư.

Còn đây, năm 1931, ông Phan Khôi phê phán về cái văn minh “kinh hoạch” phố phường trên báo Đông Tây (số 114): “Nhà cửa phố xá, cái thì lồi ra, cái thì lõm vào, chủ nó mỗi người cất theo mỗi ý riêng mình, không buộc phải đúng quy củ nào hết”.

Trong quá khứ của người Việt, mọi sự phấn đấu trong đời sống kinh tế dường như chỉ tập trung để đạt tới một mục tiêu – được sử dụng một ngôi nhà to, bề thế hơn là những giá trị sống thuộc về môi trường, văn hoá liên quan. Bàn tay của kiến trúc sư có lẽ chỉ có giá trị trong vài năm gần đây, khi đất chật người đông, làn sóng nhập cư vào đô thị ồ ạt, quá trình đô thị hoá nhanh chóng làm cho cơ hội ở rộng với nhiều người không còn, thay vào đó là những xoay sở giải pháp ở gọn. Mặt khác, truyền thông đã giúp người dân mở mang cái nhìn, tiếp thu văn hoá hưởng thụ, trình độ và nhận thức về chất lượng sống đã có những thay đổi lớn. Người ta nhận ra ngôi nhà không phải chỉ để đơn giản là trú mưa trú nắng hay… ngủ, mà còn để góp phần làm đẹp mỹ quan chung, bản thân nó phải là một không gian khoa học, đáp ứng những nhu cầu công năng và thụ hưởng những giá trị tinh thần, văn minh.

Nhưng còn lâu mới xoá bỏ được sạch cái dấu ấn tư duy mặt bằng, khi mà hiện nay, do sự chắp vá, bất nhất và thiếu đồng bộ về quy hoạch. Cho đến nay, tiêu chí đánh giá của Nhà nước về việc nhận diện không gian ở của người dân vẫn theo tư duy mét vuông. Một báo cáo gần đây của cơ quan chức năng, tại Việt Nam, nơi đô thị vẫn còn tồn tại nhiều hộ gia đình nghèo xoay xở sống trong những “ngôi nhà” chỉ 3m2, tiêu chuẩn còn thấp hơn ngưỡng chuẩn tối thiểu của điều kiện để xét, xếp vào diện vô gia cư trong thời bao cấp là < 5m2. Báo cáo trên cũng cho hay, trên lý thuyết thì từ năm 2.000 Nhà nước đã nâng chuẩn lên 6 – 8m2 thì được cấp nhà ở xã hội.

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam được tổng cục Thống kê công bố vào tháng 12.2009 thì trung bình diện tích nhà ở của mỗi người Việt Nam là 18,6m2. Cũng theo đợt điều tra này, thì tại Việt Nam cứ 2.000 hộ sẽ có một hộ không có nhà ở. Hộ không có nhà ở được định nghĩa là không có chỗ ở, hoặc không đáp ứng được 1 trong 3 điều kiện: có diện tích sàn tối thiểu 4m2; tường cao ít nhất 2m; có cấu trúc riêng biệt và độc lập. Trong các hộ có nhà ở, thì số hộ có nhà kiên cố chiếm 47%; nhà bán kiên cố chiếm 37,8%; nhà thiếu kiên cố chiếm 7,8%; và nhà đơn sơ chiếm 7,4%.

Mức độ tin cậy vào những con số thì còn tuỳ vào sự lạc quan hay bi quan của từng người tiếp nhận. Song cuộc điều tra trên cho thấy ngay cả trong tiêu chuẩn đánh giá nhà ở của một cơ quan chức năng, thì khái niệm chất lượng sống của một không gian ở mang lại cho con người chỉ có thể dừng lại ở mức độ “an toàn” (kiên cố) hay thiếu an toàn (không kiên cố, đơn sơ). Có thể tiêu chí trên phù hợp với một đất nước phát triển chậm, dân số tăng nhanh nên việc đảm bảo đời sống tối thiểu của người dân (chỗ ở) còn nhiều “tồn tại” nói chi đến chất lượng sống, sự hưởng thụ giá trị sống trong công trình nhà ở.

Tư duy mét vuông còn là một thứ hệ luỵ lịch sử. Điều đáng nói, là nó tác động không nhỏ đến tư duy quy hoạch đô thị. Sự hiện đại hoá bừa bãi, sự nao núng trong những chiến lược vươn cao vì mục tiêu công năng, mở rộng mặt bằng sử dụng theo cao độ đang giết chết những môi trường hài hoà và bản sắc đô thị và mỹ quan. Đa số các công trình kiến trúc gần đây lại lấy nguồn cảm hứng không từ xu hướng kiến trúc nhạy cảm với công nghệ mới, bền vững và quan tâm đến môi trường, lợi ích xã hội mà lại chọn lựa xu hướng lợi ích thương mại.

“Một cái lẩu kiến trúc” – KTS Olivier Souquet đã nói như thế về kiến trúc TP.HCM trên tạp chí Kiến trúc số 203, 3.2012. Ông viết: “Xu hướng thương mại: hoàn toàn tuỳ thuộc vào thị trường bất động sản vốn dĩ không ổn định, chỉ có thể làm ra những bản sao, nếu không theo mô típ “tân thuộc địa” thì là “tân phong cách Victoria”, pha một chút phong cách Á châu (mà cũng chưa chắc là đến từ châu Á). Tiêu biểu là những kiến trúc phong cách Singapore với các thứ cột Corinthe Hy Lạp, chẳng khác gì một cái lẩu kiến trúc và cũng chẳng nói lên được ý đồ là cái gì”.

Bao lâu thì người Việt sẽ quan tâm đến ngôi nhà của bạn theo hướng “ý đồ là cái gì”? Bao giờ thì người Việt hết tư duy không gian sống theo mặt bằng? Có lẽ sẽ không bao giờ. Vì người ta không chỉ có thể chắp vá và sửa chữa, không thể dọn sạch để làm lại. Quy hoạch kiến trúc rất khác với cách người ta thiết kế mỹ thuật cho một cái bánh kem.

Ngày nay, một đất nước thu nhập đầu người còn thuộc hạng thấp lại có những thành phố trung tâm được xếp vào hàng những đô thị đặc biệt có giá bất động sản cao bậc nhất trên thế giới là điều chưa hẳn là vui. Một thị dân thu nhập trung bình khó có thể nghĩ đến chuyện sở hữu một không gian sống tử tế trong thành phố mà họ gắn bó và cống hiến. Và đây là biểu hiện của một thứ “tư duy mặt bằng” mới: trong những câu chuyện, người ta vẫn dùng cụm từ “chỗ chui ra chui vào” để chỉ ngôi nhà.

 NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

nguồn: http://sgtt.vn/Kien-truc-doi-song/Chi-tiet/166612/Tu-duy-theo-mat-bang.html

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

100729- Tư duy đúng thì xã hội sẽ tiến rất nhanh

Ngô Viết Nam Sơn thành danh ở nước ngoài. Cũng như thân sinh của mình, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, anh có tên trong Từ điển Danh nhân thế giới.

Sau nhiều năm tu nghiệp tại Mỹ, anh tham gia nhiều dự án lớn ở nhiều nơi trên thế giới, như cao ốc đa chức năng Almaden tại San Jose và trung tâm huấn luyện phi công tại Orlando (Mỹ), quy hoạch tổ hợp khu nhà ở và thương mại cao cấp Lachine ở Montreal (Canada), cao ốc Công ty HDB ở Singapore, phố Đông Thượng Hải (được giải thưởng danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ), nhà ga sân bay quốc tế Aquino ở Philippines... Ở Việt Nam, anh tham gia một số dự án như quy hoạch Đà Nẵng, quy hoạch chi tiết Trung tâm Du lịch thương mại quốc tế ở Phú Quốc, Khách sạn Century Huế...

Cuộc gặp gỡ diễn ra tại ngôi nhà cha mẹ anh để lại. Phòng khách là một không gian xưa cũ với kỷ niệm chương, bằng khen, chứng nhận, tranh, ảnh, tượng. Tất cả vẫn vẹn nguyên như thời cha mẹ anh còn sống. Tường xây bằng đá, cản nhiệt, nên dù nhà quay hướng chính Tây, giữa trưa nắng gắt, nhưng không khí vẫn khá mát mẻ.

Là "con nhà nòi", việc anh đến với kiến trúc có thể được xem là một lẽ tự nhiên?

Hồi nhỏ, tôi thích trò chơi xếp hình Lego. Mọi người cằn nhằn vì những thành phố mô hình "mọc" lên giữa nhà, làm vướng lối đi. Riêng cha tôi thì cười vui. Hết trung học, tôi thích ba ngành: y khoa, tin học và kiến trúc. Tôi loại y vì dở môn hóa học, tin học lúc đó còn sơ khai, nên quyết định thi vào kiến trúc. Đến giờ, sau mấy chục năm hành nghề, tôi biết sự lựa chọn của mình là đúng.

Sau bảy năm làm việc chung cùng với thân sinh, anh quyết định ra riêng. Đó là vì muốn thoát khỏi cái bóng cây quá lớn?

Tôi là sự tiếp nối. Người phương Tây có một câu nói, rằng cách nhanh nhất để trở thành người khổng lồ là đứng trên vai những vĩ nhân. Tức là thay vì bắt đầu từ móng, mình kế thừa và đi tiếp, giống như một cái cành đâm ra từ thân cây, có hoa mới, trái mới. Không ở dưới gốc, nên tôi không thấy "bóng" cây.

Tôi học được rất nhiều từ cha mình, từ cách tư duy cho đến các giá trị tinh thần. Nhưng tôi cũng luôn khao khát có cái gì đó riêng. Nếu tiếp tục làm việc chung thì dù muốn hay không, tôi vẫn phải theo ý cha tôi vì ông là chủ nhiệm đồ án. Kiến trúc của cha tôi là sự kết hợp giữa triết lý Á Đông và phong cách kiến trúc cổ điển châu Âu. Còn tôi, vẫn là cái nền triết lý Á Đông nhưng kết hợp với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin. Thời đại thay đổi. Toàn cầu hóa đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, chẳng hạn như bảo tồn và phát triển.

KTS Ngô Viết Nam Sơn. Tranh Hoàng Tường
Anh có thể nói rõ hơn?

Nhìn lại lịch sử, kiến trúc của cha ông ta trật tự hơn bây giờ. Thời đó, thứ tự của tứ dân là sĩ - nông - công - thương. Việc xếp "sĩ" đứng đầu không phải vì xem nhẹ thương mại, mà thể hiện sự ưu tiên của tiền nhân cân nhắc nặng nhẹ các giá trị văn hóa tinh thần khi đưa ra những quyết định quan trọng. Còn hiện nay, trật tự đó đã thay đổi theo chiều ngược lại, thương mại trở thành mối quan tâm hàng đầu. Khi đồng tiền trở thành số một thì người ta sẵn sàng đập bỏ công trình có lịch sử hàng trăm năm để xây nhà cao tầng.

Đó là vì bảo tồn không sinh lời?

Tôi có thể chứng minh bảo tồn vẫn sinh lời. Thí dụ, khu phố cổ Xintiandi ở Thượng Hải với những nóc nhà thấp lè tè sau khi được cải tạo đã trở thành một trong những khu vực đóng góp nhiều nhất cho GDP của thành phố này. Chính quyền địa phương đã chấp nhận phương án bảo tồn chúng tôi đề xuất, thay vì san phẳng để xây cao ốc.

Thay đổi nhận thức của xã hội là một quá trình. E rằng đến khi mất bò chúng ta mới làm xong chuồng?

Tôi nghĩ, giáo dục là hướng đi bền vững để thay đổi thực trạng này. Đối tượng cần bồi dưỡng nhiều nhất là những nhà lãnh đạo bởi họ có quyền ra quyết định. Để giữ chân nhà đầu tư, có một thời kỳ chúng ta cho phép họ xây dựng tại trung tâm lịch sử của thành phố. Quan điểm đó có thể đúng trong giai đoạn đất nước ta còn nghèo. Bây giờ, đời sống đã khá hơn, mà các công trình văn hóa, lịch sử cũng không còn nhiều.

Sở dĩ các nhà đầu tư thèm muốn vị trí trung tâm lịch sử là vì chi phí xây dựng ở khu vực này hiện quá rẻ, lợi nhuận quá lớn. Muốn ngăn họ không vào trung tâm lịch sử thì làm cho việc xây dựng tại trung tâm không còn lời quá cao so với các khu đô thị mới bằng cách áp dụng phí môi trường cao hơn khi cấp phép đầu tư xây dựng tại các khu vực nhạy cảm vì các lý do sau. Một là nhà đầu tư tuy không phải làm hạ tầng, nhưng điều này lại gia tăng áp lực hạ tầng lên hệ thống cũ. Hai là tòa nhà mới mọc lên kéo theo hàng ngàn người ra vào làm việc hằng ngày, sẽ tạo thêm áp lực đối với hệ thống giao thông chung quanh, đặc biệt là ách tắc giao thông và chỗ đậu xe. Ba là công trình cao tầng làm giảm giá trị cảnh quan của các di sản văn hóa lịch sử lân cận, ảnh hưởng gián tiếp đến doanh thu ngành du lịch. Trên thế giới, nhà đầu tư phải trả phí môi trường rất cao, còn ở ta, Nhà nước lại bao cấp cho tư nhân hưởng lợi.

Trận mưa lớn kéo dài ba giờ đồng hồ sáng 13/7 đã gây ngập nhiều tuyến đường ở Hà Nội, khiến giao thông tê liệt. Mới đây, UBND TP. Hà Nội trình Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp tục xây dựng 223 dự án nhà cao tầng tại bốn quận trung tâm. Là một chuyên gia quy hoạch đô thị, anh đón nhận thông tin này như thế nào?

Cuối năm ngoái, Thủ tướng ra quyết định ngừng đập biệt thự cũ làm tôi rất mừng. Tôi nghĩ Chính phủ đã thấy rõ nguy cơ. Việc gần đây thay vì chuyển các dự án cao tầng ra khu đô thị mới, người ta lại rục rịch đòi xây các dự án này tại nội ô do sự tác động của các nhóm lợi ích, khiến tôi băn khoăn.

Tình trạng ngập tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh không có gì lạ, bởi hệ thống hạ tầng quá yếu kém mà người ta lại càng tăng tải lên nó. Mỗi ngày, hệ lụy này làm xã hội thiệt hại biết bao nhiêu mà kể. Từ 18 năm nay, chúng tôi đã khuyến nghị giảm tải xây dựng tại trung tâm thành phố, xuất phát từ nghiên cứu những bài học thực tiễn của thế giới. Sau đệ nhị Thế chiến, các đô thị ở châu Âu và Mỹ bùng nổ về xây dựng. Nhưng trong suốt quá trình phát triển kéo dài đến bây giờ, không có bất kỳ thành phố nào của họ bị ngập như chúng ta. Cách làm của họ là ưu tiên trọng tâm phát triển, đi từ ngoài vào trong, tức là ưu tiên xây dựng khu vực ngoại ô trước. Mãi đến đầu thập niên 1990, người ta mới bắt đầu tập trung phát triển khu vực trung tâm đô thị. Nghĩa là trong nửa thế kỷ trước đó, cán cân xây dựng đô thị phát triển lệch hẳn về ngoại ô. Còn chúng ta thì cứ tiếp tục đi ngược lại xu hướng của thế giới cho dù phải trả giá rất đắt.

Liệu bây giờ thay đổi, theo anh, có còn kịp không?

Dù đã trễ nhưng trễ vẫn còn hơn không. Tôi nghĩ GDP của chúng ta sẽ tăng đáng kể nếu thay đổi này trở thành quốc sách. Ít nhất chúng ta cũng mất vài chục năm để phát triển nhanh khu ngoại vi trong khi khu trung tâm phát triển dần dần với tốc độ chậm hơn nhiều. Anh Trang Bảo Sơn, Phó Ban Quản lý Dự án Thủ Thiêm cho biết hiện nay mới có ba nhà đầu tư đến tìm hiểu cơ hội đầu tư vào Thủ Thiêm. Thử hình dung, nếu các dự án cao ốc đang và sẽ xây dựng ở trung tâm TP. Hồ Chí Minh "chạy" sang Thủ Thiêm do chi phí xây dựng rẻ hơn khu trung tâm hiện hữu thì chúng ta sẽ sớm có thêm một khu đô thị hiện đại, đồng thời cứu vãn được phần nào trung tâm lịch sử đã bị xâm hại.

Tiếng Pháp có một câu kinh điển: "Quand le bâtiment va, tout va!". Câu này đa nghĩa. Một là "an cư lạc nghiệp", xây dựng đô thị đâu ra đó thì doanh nghiệp phát triển ổn định. Hai là xây dựng đô thị trên cơ sở dự đoán tiềm năng mở rộng thì tự khắc phát triển đi vào kế hoạch. Ba là quy hoạch đô thị cần có sự hợp tác của nhiều ngành, từ luật pháp, văn hóa, kinh tế... Chỉ cần nhìn vào quá trình phát triển đô thị của một thời kỳ là có thể hình dung được tình trạng văn hóa, lịch sử, môi trường, kiến trúc, khoa học kỹ thuật của một quốc gia trong thời kỳ đó. Sinh thời, cha tôi thường nói: "Vạn thù quy nhất bổn, nhất bổn tán vạn thù". Nhìn cái nhỏ là thấy cái lớn, và ngược lại. Cái nhỏ có đầy đủ thành phần của cái lớn. Diện mạo đô thị là thước đo phát triển quốc gia.

Đất nước đã hòa bình được 35 năm. Theo anh, Việt Nam đã có những công trình kiến trúc tiêu biểu đại diện cho giai đoạn này?

Cha ông ta đã từng có một nền kiến trúc đáng tự hào. Mỗi triều đại phong kiến đều có những dấu ấn riêng. Gần nhất với chúng ta là giai đoạn trước 1975. Hồi đó, Việt Nam đã có một số thành tựu về bản sắc chẳng hạn như Dinh Độc lập, Thư viện Quốc gia ở trong Nam và Hội trường Ba Đình ở ngoài Bắc. Hội trường Ba Đình là công trình kiến trúc có sự tìm tòi, sáng tạo, dù trong điều kiện hạn chế về tài chính, tiếc là đã bị đập bỏ. Còn chúng ta hiện nay, nói một cách sòng phẳng, chưa có một công trình kiến trúc tiêu biểu mang âm hưởng văn hóa thời đại.

Tại sao?

Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là chưa gột rửa tâm lý xây dựng tạm bợ hình thành trong thời chiến. Lúc đó, yếu tố an cư lạc nghiệp chưa khả thi, nguồn lực cũng hạn chế. Các nhà đầu tư không đầu tư lâu dài vì thế hệ sau, mà chủ yếu nhắm đến lợi ích ngắn hạn, có lời là sang tay. Vì miếng cơm manh áo, nhiều kiến trúc sư (KTS) triệt tiêu sự sáng tạo để chiều lòng nhà đầu tư. Thứ hai, chất xám chưa được định giá tương xứng, có sự chênh lệch đáng kể về thù lao giữa KTS trong và ngoài nước. Ngày trước, thù lao của KTS được xem là tiền danh dự (honoraire) và được trả với sự tôn trọng bởi KTS là người đại diện và bảo vệ cho lợi ích của khách hàng cũng như lợi ích chung, chứ không phải là thiết kế phí theo nghĩa KTS là người làm công cho khách hàng như hiện nay. Một dấu hiệu cho thấy nghề KTS đang bị thương mại hóa.

Thứ ba là chất lượng đào tạo. Thế hệ trước được đào tạo bởi các giáo sư nước ngoài hoặc tốt nghiệp ở nước ngoài, hằng năm số lượng tốt nghiệp chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng đều là những người giỏi và yêu nghề. Còn cách đào tạo hiện nay nghiêng về số lượng. "Xuất xưởng" hàng ngàn KTS mỗi năm để làm gì khi mà nhiều người phải chuyển sang làm nghề khác sau khi tốt nghiệp. Thứ tư là vấn đề lãnh đạo - quản lý. Có một thực tế là trong khoảng thời gian 15 năm, từ năm 1975 đến 1990, hầu hết những KTS không có cơ hội đào tạo hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, tài liệu lạc hậu và không được cập nhật. Khá nhiều những người có tiếng nói quyết định trong lĩnh vực kiến trúc hiện nay từng được đào tạo trong thời kỳ này. Họ cần được tạo điều kiện tu nghiệp thêm ở nước ngoài, hoặc chính họ phải biết cầu thị, mời người giỏi về giúp mình.

Thêm nữa, đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường nhưng chúng ta vẫn duy trì cứng nhắc bộ Tiêu chuẩn thiết kế theo cơ chế cũ, khiến KTS bị gò bò bởi các quy định đã lỗi thời, từ tiêu chuẩn kỹ thuật cho đến chi phí thiết kế. Chưa kể, không ít chủ đầu tư vin vào đó để mặc cả với KTS.

Phải chăng đó là lý do khiến nhiều địa phương mời tư vấn thiết kế nước ngoài?

Cầu ngoại viện là "con dao hai lưỡi". Tháp đôi Petronas được xem là biểu tượng của Malaysia, mặc dù tác giả là KTS người Mỹ Cesar Pelli vì trước khi thiết kế, ông ấy đã dành rất nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu về văn hóa nước này. Vậy nên, đã mời thì phải mời cho đúng. Mời KTS hàng đầu thế giới bớt được rủi ro vì họ có ý thức bảo vệ uy tín của mình. Tuy nhiên, trong nhóm phác thảo ý tưởng nhất thiết phải có người Việt, am tường văn hóa Việt tham gia. Khi thống nhất ý tưởng, chúng ta có thể nhờ giúp thêm về hạ tầng, giao thông... bởi đó là lĩnh vực mà họ có nhiều kinh nghiệm. Cũng không cần nước ngoài phải làm nhiều, chỉ cần họ làm mẫu một vài công trình, để đội ngũ KTS trong nước học hỏi.

Hiện nay, rất nhiều công trình do nước ngoài thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh có hàm lượng văn hóa bản địa rất kém và chủ yếu thiết kế để phục vụ mục đích lợi nhuận của nhà đầu tư, điển hình là Khách sạn Kumho Asiana và Diamond Plaza, phá hỏng cảnh quan lịch sử khu vực Nhà thờ Đức Bà. Những công trình này không tệ về mặt kiến trúc nếu đơn lẻ. Tuy nhiên, phong cách hiện đại và giải pháp chiều cao không phù hợp với quần thể kiến trúc của trung tâm, bộc lộ sự thiếu ý thức về văn hóa.

Đúng là Nhà thờ Đức Bà đang bị bủa vây bởi các tòa nhà cao tầng. Đứng ở bất kỳ góc nào cũng không thể ngắm công trình văn hóa - tôn giáo này một cách trọn vẹn, bởi hậu cảnh luôn có sự hiện diện của tòa nhà thương mại. Vì sao khi duyệt quy hoạch người ta không thấy điều này?

Theo tôi, nên tách bạch lãnh đạo hành chính và lãnh đạo quy hoạch kiến trúc. Vai trò của người quản lý rất quan trọng. Một quyết định đúng có thể cứu cả một khu đô thị. Không thể bảo tồn trung tâm lịch sử bằng hô khẩu hiệu. Bên cạnh phí môi trường phải cao hơn nhiều như đã đề cập, việc cần làm ngay là xác định ranh giới cụ thể, trong đó chức năng và hệ số sử dụng đất cho phép phải phù hợp với cảnh quan trung tâm lịch sử, đảm bảo các công trình lân cận phải tương hợp với công trình trọng tâm, trong trường hợp này là Nhà thờ Đức Bà. Thí dụ, xác định hệ số sử dụng đất đối với việc xây dựng mới khu vực quanh các công trình lịch sử sao cho nếu đạp đi cái cũ thì cũng không xây cao thêm được bao nhiêu. Lúc đó, các nhà đầu tư sẽ "đi chơi chỗ khác", chẳng hạn như khu đô thị mới Thủ Thiêm. Bởi điểm chung ở các nhà đầu tư hiện nay là "tư duy mét vuông", tức là càng nhiều mét vuông càng tốt.

Liệu có giải pháp dung hòa lợi ích của đối tượng này với lợi ích cộng đồng?

Lý do là thiếu kiến thức, chỉ thấy một vế của vấn đề. Bớt "mét vuông", dành thêm diện tích cho cảnh quan và các công trình phụ trợ thì giá trị gia tăng nhiều hơn, túi tiền của nhà đầu tư vừa không vơi, lại vừa đóng góp cho xã hội những công trình đẹp. Có một thực tế là người ta đang đánh tráo khái niệm nhà cao tầng và nhà cao cấp. Thực ra, nhà thấp tầng với bao cảnh đẹp mới là cao cấp nhất.

Như vậy, kiến trúc sư hiện nay bị chi phối bởi hai nhà là Nhà nước và nhà đầu tư. Nhiều trói buộc như vậy nhưng anh quyết định "dành nhiều thời gian hơn ở Việt Nam" như lời tâm tình tại buổi sinh hoạt ở Cà phê thứ Bảy. Có phải vì con chim bay mãi rồi cũng mỏi?

Trước khi đi du học, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ mình sẽ sống luôn ở nước ngoài. Những kinh nghiệm tích lũy nay đã tạm đủ để tôi về đóng góp cho Việt Nam. Cái mất thứ nhất khi sống ở nước ngoài là bỏ qua cơ hội đóng góp cho quê hương. Cái mất thứ hai là thời gian cho bản thân và gia đình. Kiếm được nhiều tiền nhưng không có thời gian để tiêu và gần gũi người thân thì cũng không có ý nghĩa. Thành ra, về Việt Nam cũng là vì mình.

Tuy vậy, tôi vẫn chưa về hẳn. Tôi ở nước ngoài quá lâu, cuộc sống ở Bắc Mỹ cũng gần gũi như ở Việt Nam. Phần khác là bởi kiến thức ngày nay thay đổi rất lẹ, ngừng một thời gian quay lại Mỹ là đã thấy có những kiến thức mới cần phải cập nhật rồi.

"Chúng ta hiện nay, nói một cách sòng phẳng, chưa có một công trình kiến trúc tiêu biểu mang âm hưởng văn hóa thời đại". Ảnh: tapchikientruc.
Anh có tin những lời mình đóng góp sẽ được lắng nghe?

Ngày còn bé xíu, có những lúc tôi ấm ức, cảm thấy bị trói buộc bởi những lời dạy của cha mẹ. Nhưng cha mẹ tôi vẫn kiên trì và quả là "mưa dầm thấm đất". Những lời dạy của cha mẹ tôi lúc sinh thời đã giúp tôi rất nhiều trong trường đời, càng ngày tôi càng thấm thía. Thay đổi tư duy người khác rất khó, cho dù mình góp ý với thiện chí. Nhưng không vì khó mà mình im lặng. Tôi tin dần dần sẽ có những nhà lãnh đạo lắng nghe và phát huy hiệu quả cho đất nước Thay đổi tư duy đúng thì xã hội sẽ tiến rất nhanh, một năm bằng mấy chục năm.

Kiến trúc là nghệ thuật. Nhìn lại các công trình mình đã thực hiện, với anh, công việc nhiều hơn tác phẩm hay ngược lại?

Tôi đã làm khá nhiều công trình, nhưng ưng ý thì rất ít. Phải vào cuộc mới có kinh nghiệm. Kiến trúc là lao động tập thể. Tất cả tác phẩm kiến trúc nổi tiếng trên thế giới đều không chỉ mang dấu ấn của kiến trúc sư, mà còn có dấu ấn của nhà đầu tư và nhà quản lý có tầm và có tâm. Bảo tàng Louvre của Pháp là một ví dụ. Bản thiết kế cải tạo mở rộng công trình này của KTS I.M Pei từng bị dư luận chỉ trích kịch liệt. Tổng thống Pháp Mitterand phải "đứng mũi chịu sào" rất lâu, trước khi nó được toàn thế giới công nhận là một kiệt tác. Đương nhiên, tìm được tri kỷ như vậy không dễ. Gần đây, tôi đã buộc phải khước từ một dự án mà mình rất muốn làm. Lý do cũng vì không thuyết phục được nhà đầu tư thay đổi "tư duy mét vuông", cho dù đã có phương án đảm bảo lợi nhuận và lợi ích lâu dài cao hơn nhiều.

Ngoài kiến trúc, anh còn chơi dương cầm rất cừ. Liệu có sự đồng điệu nào giữa những bản vẽ kỹ thuật và âm thanh?

Âm nhạc đỉnh cao và kiến trúc đỉnh cao đều thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, vượt xa khỏi những toan tính đời thường như tiền bạc, danh vọng... Bởi nếu chạy theo tiền bạc và danh vọng thì không bao giờ trở thành nghệ sĩ giỏi. Âm nhạc giúp tôi giải tỏa những xúc cảm, tìm lại sự lạc quan, hứng khởi đối với công việc.

Trong âm nhạc, anh đã tìm được tri kỷ?

Tôi viết nhạc trước hết là để cho mình. Tôi chia sẻ âm nhạc của mình với những người mình yêu quý. Công việc sáng tác với tôi khá nhẹ nhàng, giống như một hình thức nhật ký, ghi lại những cảm xúc của mình vào những thời điểm đặc biệt với mình. Đến giờ, gia tài cũng được mấy trăm bài.

Xin cảm ơn anh.

Tác giả: Thượng Tùng (DNSGCT)

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

nguồn: http://tuanvietnam.net/2010-07-24-tu-duy-dung-thi-xa-hoi-se-tien-rat-nhanh

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

090608- Tư duy theo thị trường

Tuần qua, một trong những nội dung được đại biểu QH bàn rất sôi nổi là mở rộng quy định cho Việt kiều mua nhà. "Nếu thừa nhận ba triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận thì không nên có sự phân biệt, không được hạn chế quyền lợi của họ".

Đại biểu Nguyễn Ngọc Đào đã phát biểu như trên.
 
Câu chuyện Việt kiều mua nhà bàn đi tính lại gần 10 năm nay, tính đến tháng 3/2009 mới chỉ có 140 trường hợp được sở hữu nhà.

Chắc chắn số lượng Việt kiều có nhu cầu về nước mua nhà không thấp đến thế, nhưng những quy định ràng buộc đã hạn chế giao dịch.  Chính sách ban hành  và đi vào xã hội nhưng nó không có sức sống, và hiệu quả thấp, vậy thì phải sửa đổi cho phù hợp. Chính vì vậy mà nhiều đại biểu cho rằng cần phải  bổ sung sửa đổi một số điều của Luật Đất đai và Luật Nhà ở. Đối với quy định người  Việt ở nước ngoài mua nhà trong nước, phải có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Cũng có nhiều ý kiến cho rằng nếu mở rộng "quá tay" thì Việt kiều sẽ về đầu cơ địa ốc, gây ra những xáo trộn thị trường bất động sản trong nước. Phản biện lại luồng ý kiến này, một số đại biểu cho rằng hiện nay giá nhà đất trong nước cao hơn ở Mỹ, người ta không dại gì về đầu tư mua nhà để kinh doanh. Nếu Việt kiều về mua nhà, thì chủ yếu là để ở, hoặc vì mong muốn có được ngôi nhà trên quê hương của mình. Mặt khác, nếu người có nhu cầu kinh doanh địa ốc tại VN thực sự, thì dù không mở rộng quy định mua nhà họ vẫn kinh doanh được. Họ có thể nhờ người nhà đứng tên giúp và mua bán, Nhà nước cũng không quản lý được.

Tuy nhiên, điều cần phải suy nghĩ, đó là nên tư duy cho đúng về quy luật của thị trường. Người  ta có tiền và có quyền kinh doanh nhà đất hợp pháp, thực hiện nghĩa vụ thuế và chấp nhận rủi ro cũng như được hưởng lợi nhuận. Người VN có tiền sang Mỹ mua nhà thoải mái, thì Việt kiều cũng có thể về nước mua nhà thoải mái. Chúng ta lo Việt kiều đầu cơ nhưng quên rằng ba triệu Việt kiều là nguồn khách hàng quan trọng để vực dậy thị trường bất động sản trong nước.
 
Trong hai năm qua, thị trường địa ốc đóng băng, các doanh nghiệp điêu đứng, Nhà nước mất nguồn thu thuế không nhỏ. Nếu thị trường được kích hoạt thì Nhà nước, doanh nghiệp, các nhà đầu tư thứ cấp cùng có lợi. Muốn kích hoạt thì phải có đầu cầu, và Việt kiều là một trong những nguồn cầu. Chưa kể, khi thị trường bất động sản khởi sắc thì nhiều ngành nghề liên quan như xây dựng, cơ khí, đồ gỗ, thiết bị nội thất, vật liệu xây dựng... sẽ được tác động tích cực, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động. Tư duy theo thị trường sẽ giúp thay đổi cách nhìn.

Lê Chân Nhân

nguồn: http://dantri.com.vn/c202/s202-329561/tu-duy-theo-thi-truong.htm

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009

090513- sự khác biệt giữa phong cách sống của phương Đông và phương Tây

(Theo blog Kikim)

 

Những bức hình dưới đây được thiết kế bởi Liu Young, một sinh viên Trung Quốc theo học tại Đức. Những góc nhìn tuy không mới nhưng vẫn khá bất ngờ và thú vị về sự khác biệt giữa phong cách sống của phương Đôngphương Tây.

Trong 36 bức hình của mình để lột tả những sự khác biệt giữa “Ta” (tạm dùng từ này) và “Tây”, có vẻ như Liu Young đã nhận thấy rằng người phương Đông có nhiều thói khác biệt người phương Tây như “Ta” thường trong bụng rất tức giận nhưng bên ngoài vẫn thơn thớt cười nói, khi suy nghĩ hay giải quyết một vấn đề nào đó thường rất vòng vèo và hay làm mọi việc rối tung lên, khi phải xếp hàng thì vô tổ chức như cái chợ vỡ… trong khi "Tây" thì ngược lại.

Tuy nhiên, có một ưu điểm gần như là duy nhất của “Ta” so với "Tây" được Liu Young chỉ ra là dù thời tiết mưa nắng thế nào thì "Ta" vẫn luôn lạc quan hơn "Tây"!

Dù sao, đây cũng chỉ là quan điểm của cá nhân Liu Young mà thôi, nhưng chúng ta vẫn có thể cùng chia sẻ và suy ngẫm xem sao.
(Màu xanh tượng trưng cho phong cách phương Tây; Màu đỏ tượng trưng cho phong cách phương Đông)
Quan điểm: 


 
Cách sống:


 
Giải quyết vấn đề:

>
 
Sếp:


 
Giao thiệp:


 
Khi tức giận:


 
Khi xếp hàng đợi:
 
 
Đúng giờ:

 
Tiệc tùng:
 
Trong nhà hàng:
 
Phố phường ngày chủ nhật:
 
Du lịch:
 
Khuynh hướng:
 
Ba bữa mỗi ngày:
 

 
Phương tiện giao thông:
 
Tâm trạng và thời tiết:
Vị trí của trẻ em: