Hiển thị các bài đăng có nhãn dời. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dời. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2010

100517- Đọc lại "Chiếu dời đô" để thấy tầm nhìn quy hoạch của ông cha

Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) khẳng định việc dời đô (hay định đô - lựa chọn trung tâm quyền lực của đất nước) là việc lớn phải hết sức cẩn trọng, không được theo ý riêng của cá nhân "chợt nghĩ, chợt làm"...

LTS: Nhìn lại diện mạo đô thị Việt Nam từ xưa tới nay, KTS Phác Nguyên cho rằng, đây là việc lớn phải hết sức cẩn trọng, không được theo ý riêng của cá nhân "chợt nghĩ, chợt làm". Phải dứt mình ra khỏi những bức xúc thường nhật, những thành tích vụn vặt, để trong một chừng mực nhất định, hy vọng có được một nhãn thức toàn cảnh về công cuộc đô thị hoá. Tuần Việt Nam giới thiệu loạt bài viết nhiều kỳ thể hiện góc nhìn riêng của ông để mọi người cùng suy ngẫm.

Đã có nhiều lời ca tụng "Chiếu dời đô" theo cách nhìn khác nhau; Nhân dịp bàn về quy hoạch thủ đô Hà Nội chúng tôi thấy rằng cần quay trở lại với áng văn bất hủ, một quyết định sáng suốt, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến vận mệnh quốc gia, dân tộc, một tấm gương sáng, không chỉ trong xây dựng luận cứ lựa chọn vị thế của đô thị thủ đô; Trong bài này, chúng tôi chỉ xin phân tích trên hai khía cạnh tư duy và tầm nhìn:

Về tư duy:

Tư duy Tiền lệ pháp: Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[5], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[6], há phải các vua thời Tam Đại[7]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô.

Thăng Long - Hà Nội

Lời bình:

Thời xưa, phương tiện hạn chế, việc khảo sát khó khăn dù có muốn cũng không thể làm ngay, vì vậy, các triều đại phần nhiều mò mẫm rút kinh nghiệm dần dần; Nhưng biết có những bài học trong lịch sử mà không đối chiếu tiền lệ để tránh sai lầm tất không phải bậc cao minh trí huệ; Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) khẳng định việc dời đô (hay định đô - lựa chọn trung tâm quyền lực của đất nước) là việc lớn phải hết sức cẩn trọng, không được theo ý riêng của cá nhân "chợt nghĩ, chợt làm" hồ đồ, ỷ vào quyền lực để tự quyết theo ý mình; Có thể thay đổi, thậm chí thay đổi nhiều lần (để tốt hơn) song phải có lý do chính đáng;

Tư duy Biện chứng pháp (theo mục tiêu):  Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.

Lời bình:

Bậc đế vương (thịnh trị) lấy mục tiêu vì quốc gia dân tộc (nghiệp lớn) làm trọng; Chọn ở chỗ giữa (trung tâm) nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi (trên kính mệnh trời), có khả năng quy tụ lòng người (dưới theo ý dân); Biện chứng pháp ở chỗ không câu nệ, linh hoạt;  Làm người đứng đầu quốc gia phải lấy ý dân làm ý của mình, hướng tới giúp cho nước thịnh dân an;

Tìm nơi ở giữa đất trời tức tìm nơi cư ngụ cho trăm họ; Vì vậy, chọn vùng đất rộng lớn để cho các ngôi nhà có thể xoay bốn phương tám hướng; Nhà nhà phát vượng, người người đại cát, chẳng phải là niềm vui của hoàng đế sao?

Nếu thấy chỗ tốt, ý tốt, song quá ham quyền lực muốn khác đi để thể hiện cái tôi, đẩy thiên hạ vào chỗ lầm than - ấy là không có trái tim; Chưa rõ nguồn cơn, hồ đồ tìm cách bao biện ý riêng mình, chọn dịch chuyển từ chỗ tốt (của thiên hạ) ra chỗ xấu (của mình) - ấy là không có khối óc;

Tư duy Kinh nghiệm (bài học lịch sử): Thế mà hai nhà Đinh, lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Lời bình:

Không phải đấng quân vương, thiên tử nào cũng có kiến thức sâu rộng về vấn đề này, không riêng các vị Vua Đinh, Vua Lê (tiền Lê), hầu hết là các vị vua dựng cờ khởi nghĩa, triều đại ở giai đoạn đầu, việc đóng đô theo mục đích phòng thủ (nói theo ngôn ngữ hiện đại là Thủ đô Kháng chiến) nên thường chọn những nơi hiểm trở, dựa vào núi, sông ngăn cản sự tấn công của kẻ địch; Lựa chọn vị thế giãn cách thâm nhập (thời chiến) đương nhiên cũng sẽ ngăn cản sự quy tụ, phát triển (thời bình);

Thông thường các triều đại thịnh trị sau khi giành được chính quyền đều rời Thủ đô Kháng chiến, chọn nơi (vùng đất) phù hợp để định đô; có thể xây dựng mới hoặc kế thừa;

Chọn vị trí đúng sẽ thuận cho phát triển, quy tụ lòng dân, tạo sự ủng hộ (Thiên thời, Địa Lợi, Nhân hòa) chấn hưng quốc gia, đất nước; Các triều đại không chính danh (hoặc không hợp lòng dân) thường vướng vào các bê bối nội trị, không có các định hướng lớn (định đô) khiến lòng dân ly tán, thường sớm bị sụp đổ;

Về tầm nhìn:

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[8], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

Dời đô (hoặc định đô) vào "thế mở - thế phát triển" là thể hiện đẳng cấp của trí tuệ, tầm nhìn sâu rộng; Lựa chọn định đô vào "thế cùng" sẽ tổn hao công của, dẫn đến quốc gia suy vi;

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[8], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước.

Lời bình:

Các triều đại Nhà Ngô, Nhà Đinh, Nhà (Tiền) Lê do thế cùng, lực mỏng đã chọn nơi thành có sẵn (Thành Cổ Loa) hay vùng hiểm trở tự nhiên (Thành Hoa Lư) hợp với thế phòng thủ (bị động) cũng là tất yếu;

Thành Đại La từ trước do các viên tướng nhà Đường chọn làm nơi đồn trú cai trị (trong đó có Cao Biền - nổi tiếng giỏi thuật phong thủy) không phải ngẫu nhiên;

Điều khác biệt giữa Lý Công Uẩn và những người khác là ở tầm nhìn và cách tư duy chỉ có ở bậc minh quân, trí tuệ; Việc nhìn ra một giải pháp phòng thủ trường tồn và bền vững đó là chủ động phát triển, tìm chỗ giao thương, tụ hội bốn phương để tăng cường sức mạnh thực chất (răn đe) đã làm thay đổi toàn cục; Chọn chỗ sáng để phất cờ chính nghĩa;

Nghiệp đế vương là ở trong trời đất, không câu nệ núi sông (chỉ là tiện nghi, bổ trợ); Có phải vì thế mà Kinh thành (Hoàng thành Thăng Long) được sắp đặt theo hướng Bắc - Nam (là hướng theo Kinh tuyến, Trục trái đất - hướng của La Kinh) - là hướng có tính ổn định nhất; Kinh thành đứng vững không dựa vào núi, không ngóng ra sông mà dựa vào trời đất, dựa vào lòng dân; Vị thế này chỉ Thăng Long mới có được;

Câu hỏi đặt ra là tại sao trong lịch sử nước ta, các triều đại thịnh trị (Lý, Trần, Lê...) đều chọn Thăng Long làm nơi định đô? Hay cách khác, các triều đại chọn Thăng Long làm kinh đô đều thịnh trị?

Vì sao thịnh trị? Là nơi ở giữa, Thăng Long trở thành nơi dung nạp tài năng bốn phương, quy tụ lòng người; Nước của vua nhưng nước cũng của dân, chọn Thăng Long, nơi không có chỗ cố thủ cho riêng mình, tất nhiên sẽ chung nỗi an nguy, coi dân làm gốc của nghiệp lớn; Vua nghĩ đến dân, dân sẽ nghĩ đến vua, cùng nghĩ về xã tắc;

Bất thành văn, các vị vua anh minh (chính danh) đều chọn Thăng Long làm kinh đô; Lựa chọn này xác lập đẳng cấp nhãn quan chiến lược khiến nhân dân tin vào nhân cách và trí tuệ của người đứng đầu - hết lòng phò tá - thế nên thịnh trị;

Vì sao suy vi? Chọn nơi cố thủ (yếm thế) làm kinh đô đồng nghĩa với mưu nghiệp của riêng mình; Vua vì vua, dân cũng chỉ vì dân, không nghĩ về xã tắc; Làm sao thịnh trị? Thế nên suy vi;.

Như một quy luật lịch sử, cũng bất thành văn, sau này, ở nước ta, bất cứ triều đại nào chọn kinh đô nơi khác - với thế đất hoặc phòng thủ, dựa núi - âm u hoặc quãng đất hẹp, không cân xứng - hoặc chọn trục đô thành khác hướng Bắc - Nam đều không thể phát triển, tồn tại lâu dài; trong lòng dân mặc nhiên là không chính danh (thậm chí còn coi là ngụy);

Việc chọn đất thể hiện bản chất của thể chế; Dân chúng rất nhạy cảm, chỉ thoáng qua cũng biết ai vua hiền, ai hôn quân; đâu loạn thần, đâu trung nghĩa;

Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Lời bình:

Trong lịch sử Việt Nam có hai vị vua (hoàng đế) kiệt xuất về tài năng quân sự: Ngô Vương  (Ngô Quyền) và Hoàng đế Quang Trung (Nguyễn Huệ);

Ngô Quyền (898 - 944) quê ở Đường Lâm, Sơn Tây; Năm 938 ông cầm quân đánh tan quân xâm lược Nam Hán tại sông Bạch Đằng, kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc của Việt Nam; Mùa xuân năm 939, ông xưng là Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa (thuộc thành phố Hà Nội ngày nay);

Nguyễn Huệ (1753 - 1792) quê ở Bình Định; nổi tiếng với chiến dịch Đại phá quân Thanh (Chiến thắng Kỷ Dậu - 1789); Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung (1788); Nhà Tây Sơn đóng đô ở Thành Hoàng Đế (Bình Định);

Ngô Vương rời quê nhà (Xứ Đoài - phía Tây) đến Thành Cổ Loa (phía Đông) ắt hẳn cũng đi qua Thành Đại La (Thành Cổ Loa chỉ cách Đại La Thành khoảng 9 km), vì lẽ gì ông không dừng lại? để đến nỗi ở ngôi không quá 5 năm;

Quang Trung Hoàng đế (với Công chúa Ngọc Hân là Hoàng hậu) ắt hẳn đã ở lại Thăng Long, vì lẽ gì ông không nhìn thấy (Kinh đô của mình), khiến nước nhà quay lại cảnh "nồi da xáo thịt"?

Những câu hỏi này không dành để tiền nhân, mà dành cho chúng ta - hậu thế!

Không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lại Hà Nội làm Thủ đô của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chọn Ba Đình làm nơi đọc tuyên ngôn độc lập, làm nơi ở và làm việc của Trung ương (Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án tối cao);

Định đô (hay dời đô) là hàn thử biểu đẳng cấp trí tuệ của người đứng đầu (lãnh tụ); định hướng đúng, hợp quy luật tự nhiên (mệnh trời), vì quyền lợi quốc gia, đất nước, không vì ý thích của cá nhân hay của nhóm (một vài dòng họ) mà vì trăm họ (ý muôn  dân). Nhân cách lớn tạo ra nhãn quan quảng đại, nhãn quan quảng đại chính là tầm nhìn - một tầm nhìn vô hạn định: "thượng đô kinh sư mãi muôn đời".

Nhãn quan Thăng Long tụ hội đã giúp Vua Lý Thái Tổ đưa nước ta bền vững thoát khỏi cảnh ngàn năm bắc thuộc. Nhãn quan Thăng Long tụ hội đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tạo nên những kỳ tích thời đại;

Thủ đô của các nước thịnh trị trên thế giới đều có cùng vị thế như Thăng Long - Hà Nội;
Cũng: "nơi ở giữa"; "thế đất cao mà sáng sủa"; "là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương"

Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) và Tử Cấm Thành (Bắc Kinh) đều được bố trí ở vị thế: "giữa khu vực trời đất";
"chính giữa nam bắc đông tây" Với trục chính theo hướng Bắc - Nam (trục của trái đất) lệch < 15 độ;

Tự hào về tư duy và tầm nhìn Người Việt (trong quy hoạch), khi thủ đô của các nước thịnh trị trên thế giới đều có cùng vị thế như Thăng Long - Hà Nội; Cũng: "nơi ở giữa", "thế đất cao mà sáng sủa", "là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương"; Những Roma; London; Paris; Berlin; Moskva; Bắc Kinh; Brasilia; Tokyo; Washington, D.C.; New Delhi; và thủ đô các quốc gia thịnh trị khác cùng đều ở thế đất này.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

Đến đây, chúng tôi như nghe thấy lời Hồ Chủ tịch vang vọng trên Quảng trường Ba Đình: Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?

Ngàn năm, vẫn tinh thần ấy - Tinh thần Thăng Long Tụ Hội!

Chiếu dời đô bản chữ Hán:

昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。以其圖大宅中。爲億万世子孫之計。上謹天命。下因民志。苟有便輒改。故國祚延 長。風俗富阜。而丁黎二家。乃徇己私。忽天命。罔蹈商周之迹。常安厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。百姓耗損。万物失宜。朕甚痛之。不得不徙。

况高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困。万物極繁阜之 丰。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要会。爲万世帝王之上都。

朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。

Bản phiên âm Hán-Việt:

Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.

Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?

Bản dịch tiếng Việt:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[5], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[6], há phải các vua thời Tam Đại[7]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[8], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993) - Trích nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia; (Đối chiếu với lần tái bản 2004);

Phác Nguyên

nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-05-08-doc-lai-chieu-doi-do-de-thay-tam-nhin-quy-hoach-cua-ong-cha

100517- Phong thủy: Khu vực Ba Vì không đủ "tụ khí"

Xét từ quan điểm cá nhân nghiên cứu dưới góc độ phong thủy, tôi không tán thành đưa trung tâm hành chính quốc gia vào khu vực Ba Vì.

Phần 1: Kinh Dịch có nguồn gốc từ Việt Nam?

Hiện nay dư luận đang rất quan tâm đến chuyện đặt trung tâm hành chính quốc gia về chân núi Ba Vì. Từ góc độ khoa học phong thủy, ông có thể nói gì về điều này?

Tôi có đến xem mô hình quy hoạch Hà Nội, theo cảm quan riêng - có thể rất chủ quan, vì tôi không được trực tiếp cung cấp thông tin nào cụ thể - thì với cách đặt trung tâm hành chính ở đó, có thể là người quyết định đặt ở vị trí này có tư duy về phong thủy. Đằng trước có hồ Đồng Mô, đằng sau tựa núi Ba Vì, ở giữa có khoảng đất trống, đặt trung tâm hành chính quốc gia vào đó.

Nhưng tôi e rằng, đó là kiến thức sai. Vì khu vực này khí chất rất hẹp, không đủ tụ khí. Xét từ quan điểm cá nhân nghiên cứu dưới góc độ phong thủy, tôi không tán thành đưa trung tâm hành chính quốc gia vào khu vực này.

Hầu hết các thành phố lớn trên thế giới nằm ở hữu ngạn sông nếu nhìn từ đầu nguồn xuống. Trong lý luận phong thủy của tôi, khí gặp gió thì tán, gặp thủy thì tụ. Trong sự vận động của trái đất ngược chiều kim đồng hồ, thì bên hữu ngạn sông khí tụ, bên tả ngạn thì khí tán.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Ảnh: LAD

Vậy ông có suy nghĩ gì về hướng quy hoạch cho phù hợp với khoa học phong thủy?

Từ thời điểm đặt thành Đại La đến nay đã hơn ngàn năm, khí đã tụ nhiều. Do đó tôi tán thành với quan điểm mở rộng Thủ đô. Nhưng mở như thế nào lại là chuyện khác. Tất nhiên không thể cố chấp là phải dồn mọi thứ vào khu khí tụ. Nguyên tắc căn bản nhất là phải tôn trọng sự hòa nhập với thiên nhiên cao.

Hiện nay nhiều người đòi trung tâm hành chính phải chuyển về gần Hồ Tây. Những người có kiến thức sơ sơ về phong thủy cũng đều biết là nơi gần hồ nước lớn thì đều là nơi tụ khí, âm dương hài hòa. Nhưng vùng đất đó, khí tụ đến đâu thì chưa hẳn là lấy hồ nước đó làm trọng tâm, có thể lùi lại, tiến lên, sang phải trái tùy tính toán cụ thể.

Còn những thảo luận về vấn đề trục Thăng Long - một dự án lớn của Thủ đô, ông có ý kiến như thế nào?

Khí sinh ra sự tương tác của các vật thể. Sự di chuyển vận động trên con đường tạo ra khí. Nếu con đường càng thẳng, luồng xung xát khí càng mạnh. Bởi vậy, trong phong thủy thường kiêng con đường thẳng đâm thẳng vào nhà.

Nếu mình muốn làm con đường thẳng, phải tùy vào con đường đó đâm vào đâu. Xấu tốt là quan niệm của con người, chứ bản thân thiên nhiên không có vấn đề đó. Con đường tạo ra xung xát khí, chưa hẳn là xấu. Phải xem con đường đi vào đâu, nối với cái gì thì trở thành tốt.

Tôi chưa có ý kiến cụ thể về con đường này vì chưa được xem kĩ lưỡng toàn bộ các quy hoạch xung quanh nó, và chưa thật hiểu ý đồ của người vẽ dự án.

Sẵn lòng chia sẻ "Luận tuổi Lạc Việt"

Một câu chuyện khác cũng rất thú vị là, trong dân gian hiện đang phổ biến cách tính tuổi tác để quyết định nhiều việc lớn trong cuộc đời theo phương pháp Âm dương, vậy làm thế nào để xác định được cách tính toán có đúng không?

Tôi cũng trăn trở là nhiều người chỉ học sách và đem ra áp dụng cứng nhắc, có khi đúng khi sai. Nhưng vì họ có tâm, và khách quan, không ảnh hưởng lớn lắm đển quan hệ xã hội.

Song cũng có người dùng điều này để mưu lợi bản thân và dọa dẫm thân chủ, thì rất không tốt.

Tôi mong muốn có những nghiên cứu đích thực và phổ biến để dẹp mê tín dị đoan. Để xem cho chính xác, chẳng hạn chỉ để bốc được một quẻ dịch thì cần những nhà chuyên môn nghiên cứu rất lâu và phải có kinh nghiệm.

Còn những cách tính tuổi vợ chồng lấy nhau có hợp hay không, thì thực ra rất khập khiễng. Tôi có quan điểm là yêu nhau cứ việc lấy. Không có vợ chồng nào khắc nhau cả.

Bằng chứng là tôi đã làm những thống kê tuổi vợ chồng rất là khắc, thậm chí cả tuổi tôi và bà xã tôi, trong sách nói là rất xấu. Nhưng thực tế là nhiều cặp vợ chồng rất giàu có hạnh phúc.

Tôi tìm hiểu ra một phương pháp nữa là luận tuổi Lạc Việt. Xác định rằng đứa con trong gia đình ảnh hưởng đến hạnh phúc như thế nào.

Kết luận của tôi là yêu nhau cứ việc lấy, miễn là sinh tuổi con đừng khắc tuổi mẹ. Nhiều người không biết, cứ kiên quyết là tuổi này không được lấy tuổi kia, gây nên sự chia ly đau lòng cho nam nữ.

Cái lý của việc tính tuổi để kết hôn là gì? Và cái không hợp lý của nó là gì?

Có nhiều phương pháp tính tuổi vợ chồng. Người ta chia tuổi người nam và tuổi người nữ ra 8 cung bát quái. Phối 8 cung lại ra quy ước tốt xấu, tổng cộng 64 trường hợp. Trong trường hợp sự kết hợp ra ô xấu, thì họ đưa ra kết luận là cặp này lấy nhau sẽ xấu.

Phương pháp tính khác là Cao Ly đồ hình, dùng thập thiên can của người nam, phối với 12 địa chi của người nữ, ra 120 trường hợp tuổi nam nữ lấy nhau.

Ngoài ra, còn có cách tính 12 địa chi phối với 12 địa chi, ra 144 trường hợp.

Với dữ kiện ban đầu chỉ có như vậy, thì các kết quả không thể vượt quá con số trên. Nhưng thế giới có ít nhất có 6 tỉ người, tính tối thiểu là có 1,5 tỉ cặp vợ chồng. Nếu cứ tính theo kiểu tốt xấu như các phương pháp trên, thì không lẽ có nửa số vợ chồng lấy nhau phải nghèo hoặc gặp hoạn nạn ngay? Điều này vô lý ngay trên thực tế và dễ dàng thấy sai.

Nhưng cách tính dân gian lại  có một cơ sở trên thuyết Âm Dương ngũ hành như trên vừa nói. Vậy từ đó, tìm ra một phương pháp đúng như thế nào?

Qua tính toán, tôi thấy là tuổi người con út ảnh hưởng rất lớn. Có những cặp vợ chồng lấy nhau, nếu xét tuổi theo phương pháp cũ thì rất xấu, và ngược lại.

Tôi đã ứng dụng luôn để khuyên nam nữ yêu nhau thì cứ lấy, chỉ căn làm sao để có đứa con hợp với tuổi mẹ. Vì người nữ trong thuyết Âm dương ngũ hành, thuộc về âm - âm là sự tăng trưởng, nền tảng gia đình.

Thực tế là cách tính tuổi tác để kết hôn đã gây đau khổ chia rẽ cho nhiều đôi nam nữ. Nó tuy không được nói trên thông tin đại chúng, nhưng lại phổ biến ngấm ngầm nhiều đời nay và rất khó thay đổi.

Cá nhân tôi rất sẵn sàng chia sẻ phương pháp của mình, không cần bản quyền, để giúp mọi người hiểu hơn.

Về mặt lý thuyết, đối với những vấn đề đã tiên tri được, bản thân người nghiên cứu và dự đoán trước được sự việc, có cách gì để thay đổi trong tương lai không?

Điều này rất phức tạp. Chẳng hạn, tôi và 2 người nữa đã dự đoán được cuộc chiến tranh Iraq sẽ xảy ra, nhưng sức mình không thay đổi được. Chỉ trừ phi những điều dự đoán này được nhiều người quan tâm, đặc biệt là những người có trách nhiệm, thì có thể hành động để hạn chế bớt.

Biết trước là một chuyện, điều kiện tác động lại là chuyện khác.

nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-04-28-phong-thuy-gia-nguyen-vu-tuan-anh-khu-vuc-ba-vi-khong-du-tu-khi-