1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
TLV: vấn đề nan giải này đâu chỉ riêng ở VN mới có nhỉ...Các nước xử lý cũng tuyệt vời quá trời- đáng học hỏi.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
TLV: vấn đề nan giải này đâu chỉ riêng ở VN mới có nhỉ...Các nước xử lý cũng tuyệt vời quá trời- đáng học hỏi.
Nguồn: http://forum.ashui.com/index.php?topic=1296.msg12909#msg12909
Cây đa, bến nước, sân đình - không gian truyền thống của nông thôn VN đang dần bị thay thế bởi những ngôi nhà đủ kiểu, tự phát của lớp nông dân "phất" lên.
Không ít người làm kiến trúc "đau đầu" khi nông thôn VN đang dần đánh mất những giá trị kiến trúc cốt lõi. Hội Kiến trúc sư VN (HKTSVN) đã tổ chức hội thảo "KTNT thời kỳ đổi mới" vào ngày 20.12 tại Ninh Bình để cùng nhau "gỡ" bài toán khó này.
Đổi mới theo hành trình... "ngược"
Đó là ví von của TS.KTS Lê Thanh Sơn - HKTS TPHCM khi nhìn nhận bức tranh KTNT sau 20 năm đổi mới. Nếu như hành trình "xuôi" trong quy hoạch KTNT từ trước đến nay luôn gắn với sự hoà hợp thiên nhiên, có điểm nhấn với không gian cộng đồng... thì nay, KTNT lại vận động theo hành trình "ngược": Dễ dãi bỏ qua giá trị truyền thống để có những không gian tư hữu cá nhân, phá vỡ toàn bộ kết cấu thuần tuý của làng Việt truyền thống.
Nhiều KTS đồng tình rằng, nông thôn VN thậm chí chưa được thiết kế theo đúng nghĩa đen của từ này, thực hiện bài bản các khâu thuê tư vấn nghiên cứu, khảo sát, đo vẽ... để "trình" ra một bản vẽ thiết kế hoàn chỉnh phù hợp với cảnh quan mỗi vùng miền. Thực tế, toàn bộ vốn đầu tư của Nhà nước chỉ dừng lại ở việc xây dựng hạng mục thiết yếu: Làm đường, xây cầu, kéo điện...
KTS Nguyễn Thị Hoà (HKTS Thái Bình) nêu thực tế: "Với những công trình kiến trúc cụ thể hoá về không gian thì KTS đang đứng ngoài cuộc, thậm chí không để tâm vì người nông dân không đủ tiền để thuê thiết kế. Kiến trúc là cách hiểu xa lạ đối với nông dân". Ông Sơn nhận định: "Sau 20 năm, những gì mà nông thôn VN sở hữu có chăng chỉ là sự thao túng của vật liệu, thiết bị rẻ tiền, hào nhoáng và bày trí lộn xộn".
Bắt đầu từ nhà ở
Hội viên HKTS Ninh Bình - ông Hà Thế Luân thẳng thắn cho rằng quy hoạch KTNT hiện chưa được nhìn nhận thoả đáng. Các cấp các ngành hầu như không coi KTNT là vấn đề lâu dài mà chỉ tập trung phong trào trước mắt (xoá nhà tạm, kiên cố hoá trường học, tái định cư...). Trong khi đó, ô nhiễm nguồn đất, nguồn nước, môi trường... đang đe dọa nhiều vùng nông thôn. KTS Nguyễn Thị Hoà cho biết: "Cần có sự khảo sát liên ngành giữa giao thông, thủy lợi, điện lực, kiến trúc... để có sự lồng ghép hợp lý".
Tại Thanh Hoá, Viện Quy hoạch xây dựng tỉnh đã có chương trình nghiên cứu tổng thể kết cấu hạ tầng nông thôn đến 2020. Song, ngay cả đối với các khu tái định cư - nơi gần như phải quy hoạch lại hoàn toàn, thì các nhà hoạch định vẫn lúng túng khi chưa thống nhất hình mẫu KTNT lý tưởng. Nhà mái bằng gần như thay thế mái ngói bởi nông thôn miền núi hứng nhiều gió bão. KTS Nguyễn Vượng - HKTS Thanh Hoá băn khoăn: "Hội cần đưa sản phẩm kiến trúc khả thi cho nông dân thì họ mới áp dụng làm theo". KTS Lê Thanh Sơn khẳng định: "Không thể cấm nông dân ở nhà mái bằng nhưng phải hướng cho họ một vài mẫu nhà cơ bản phù hợp với cảnh quan chung và không làm phá vỡ không gian sinh hoạt cộng đồng".
Bắt đầu từ nhà ở là ý tưởng rõ nét nhất của HKTSVN tại hội thảo. Theo GS.TS Hoàng Đạo Kính - Phó Chủ tịch HKTSVN, đây là bước mở đầu cho quá trình nghiên cứu xây dựng đề cương chung về KTNT nhằm "hiến kế" cho Nhà nước. Trước mắt, hội sẽ trực tiếp khảo sát nhiều địa bàn nông thôn khác nhau về khí hậu, địa hình và tập quán sinh hoạt, dưới sự tham gia của các nhà khoa học, KTS tại chỗ. Theo đó, những mô hình KTNT thực nghiệm mang tính chất đại diện sẽ được hình thành trên cơ sở có sự đầu tư thoả đáng ban đầu của Nhà nước.
Theo Lao Động
Về một nền kiến trúc Việt Nam- Th.S.KTS. Lê Hữu Trúc
http://ashui.com/index.php?option=com_content&task=view&id=57&Itemid=56
Kiến trúc Việt Nam đã có một thời kỳ “bùng nổ”. Bối cảnh xã hội “đổi mới” và “mở cửa” đã mang lại khá nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt nghệ thuật - từ chuyện sáng tác, đến “giao lưu”, “hội nhập” v.v… Trong một khoảng thời gian ngắn năm bảy năm mà số lượng KTS trên cả nước đã tăng lên rất nhiều. Diện mạo kiến trúc cũng thay đổi. “Đa sắc, đa hình, đa ý” hơn với nhiều xu hướng cả tây lẫn ta, cả cổ lẫn kim cùng tồn tại. Sự hồ hởi, phấn khởi, lạc quan lan tràn khắp nơi, kích thích thêm cho niềm tin về sự lớn mạnh và tương lai rạng rỡ của kiến trúc nước nhà… Tuy nhiên, khi niềm hứng khởi chóng qua, cho đến giờ nhìn lại, hầu như ai cũng thấy, sự “bùng nổ”, náo nức kia chỉ là chuyện phong trào, chuyện xã hội mang tính nhất thời. Nó mới chỉ là sản phẩm tự phát của một bối cảnh xã hội đổi mới, chứ chưa phải là sản phẩm của một hay những cách thức tư duy mới.
Tổ hợp khách sạn Sài Gòn - Mũi Né
Giờ đây, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, các KTS có thể hoàn toàn “tự do” sáng tác. Nhưng xét đến cùng, “tự do” cũng là một thách thức, mà dường như các KTS Việt Nam, vẫn chưa được chuẩn bị kỹ về mọi mặt để có thể vượt qua. Tuy đã được cởi trói, nhưng dường như họ cũng không đóng góp được gì nhiều vào việc định ra những tiêu chuẩn, những giá trị mới để định hình một hệ thẩm mỹ thích nghi với thời đại, để đồng hóa được hai khái niệm kiến trúc Việt Nam thời “đổi mới” với kiến trúc “mới” Việt Nam. Trước tình trạng “manh mún, lộn xộn” của kiến trúc, nhiều người đã quy kết nguyên nhân cho sự ngưng trệ của môi trường sáng tác kiến trúc, cho sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, thông tin, đào tạo và tuyên truyền nghệ thuật, của phê bình kiến trúc v.v… Nhưng, thực ra, vấn đề còn là ở ý thức, ở nội lực của từng KTS. Không được dẫn dắt bởi một cách thức tư duy mới, các KTS, sẽ không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự sáng tạo, cũng như không biết làm thế nào để bảo toàn và phát triển nguồn năng lượng vốn có.
Bỏ qua những hiện tượng không lành mạnh trong các hoạt động sáng tác kiến trúc gần đây với những mục đích khác nhau bên ngoài nghệ thuật của khá đông KTS, thì ngay ở phần “nghiêm chỉnh” nhất, kiến trúc “mới” Việt Nam, vẫn đang “chấp chới” giữa các khuynh hướng kiến trúc ngoại nhập của phương Tây với nghệ thuật dân gian. Nói “chấp chới”, bởi không thấy gốc rễ, không có dấu hiệu của sự chuyển hóa thích ứng, sự thống nhất mang tính nội tại. Chỉ cần đặt những cuốn giải thưởng kiến trúc Việt Nam bên cạnh bất cứ cuốn sách nào điểm lại nghệ thuật kiến trúc phương Tây thế kỷ XX, và chỉ cần xem phần hình ảnh minh họa, ai cũng dễ dàng nhận thấy, kiến trúc “mới” Việt Nam cứ như một phiên bản mờ nhạt. Có lẽ, hoàn toàn không quá khi nói, trong một diện mạo như thế, kiến trúc “mới” Việt Nam nói chung, vẫn chỉ là một vùng ngoại vi của kiến trúc thế giới. Tất cả những cái được gọi là “Biểu hiện”, là “Trừu tượng”, “Phi cấu tạo” v.v… mà các KTS đang tự hào cho là “mới” và áp dụng vào thực tế, chỉ tô đậm thêm cho tính chất ngoại vi của kiến trúc “mới” Việt Nam mà thôi - đi sau quá xa là một, nhưng quan trọng hơn, là kém thực chất: cách vẽ mới đã không mang ý nghĩa của một cách nhìn mới, và đi kèm với nó là của khoa học công nghệ và vật liệu mới, nên tuy làm theo những hình thức rất mới của thiên hạ nhưng khi diễn giải, các KTS vẫn không có mấy sự khai phá, tự thể hiện, chỉ có sự đi theo, lặp lại… Còn trong những nỗ lực khác để tìm về với truyền thống dân tộc, để khai thác những hình ảnh biểu trưng của cái được gọi là “văn hóa làng”, “văn hóa tâm linh” v.v… thì hầu hết các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở mức làm thỏa mãn sự hiếu kỳ văn hóa của một số người, của khách nước ngoài nói chung, chứ chưa làm nên giá trị và vị thế cho kiến trúc Việt Nam xét trên phương diện nghệ thuật.
Bưu điện Quốc tế Hà Nội
Đến lúc này, dường như, đã có thể nói về một sự đứt đoạn trong các quan hệ văn hóa kiến trúc. Hầu như ai cũng cảm thấy nghệ thuật của kiến trúc là thứ thật cần thiết như một nguồn năng lượng làm gia tăng chất lượng cuộc sống, làm gia tăng các khả năng thích nghi với cuộc sống đương đại…nhưng đồng thời, lại chẳng có mấy ai thực sự quan tâm, tiếp cận, tìm hiểu mỹ thuật kiến trúc trong một ý hướng chủ động, tích cực, cặn kẽ, và bài bản. Phần lớn các KTS vẫn chỉ chạy theo nhu cầu của thị trường, còn với số đông công chúng những người tạo nên thị trường thì nghệ thuật là thứ “kính mà không dám đến gần” biết là hay đấy nhưng không hiểu, không biết nên không tiếp cận, hoặc chỉ tiếp cận một cách sơ sài, cẩu thả; về phía các cơ quan quản lý, dường như cũng mới chỉ quan tâm đến khía cạnh pháp lý, những tiêu chuẩn về an toàn nói chung, tác phẩm không vi phạm luật pháp, chính trị là được chứ chưa thật sự quan tâm đến chất lượng nghệ thuật và thẩm mỹ của kiến trúc, giới phê bình kiến trúc thì hầu như không tồn tại, nếu có thì cũng im hơi lặng tiếng một cách khó hiểu v.v…
Có thể giải thích một phần nguyên nhân thực trạng này, bằng những phân tích về sự yếu kém của hoạt động phê bình và thông tin tuyên truyền kiến trúc. Phê bình kiến trúc đã không đảm nhiệm được vai trò của nó, không kích thích được nhu cầu và khai mở ý thức sáng tạo nơi các KTS, không có khả năng làm cho công chúng yêu thích và hiểu biết sâu hơn về nghệ thuật, không thuyết phục được các nhà quản lý trong việc định hướng v.v… Sinh hoạt lý luận, học thuật rất ít, hình thức lại không phong phú, và thường chỉ dừng lại trong khuôn khổ của một vài hội thảo, diễn đàn xong rồi thôi, ít tạo được hiệu quả.
Trụ sở Bộ Tài Chính
Trong bối cảnh ấy, đa số các chủ đầu tư lại không hiểu hết cái đặc thù của công việc sáng tạo nghệ thuật. Họ thiếu hiểu biết về mỹ thuật, trong công việc còn mang nặng tính ngẫu hứng, nên nhiều khi đã can thiệp khá thô bạo vào công việc sáng tạo của KTS. Phần lớn thích bắt chước người khác mà làm chứ hiếm khi có “triết lý”, có “gu” riêng trong nghệ thuật…Trong một môi trường hành nghề như vậy, nên tuy số lượng KTS của chúng ta khá đông đảo, công trình mọc lên nhiều nhưng dường như chẳng có mấy tác phẩm có tiếng nói riêng, có khả năng đại diện cho nền kiến trúc Việt Nam để hòa nhập một cách hữu cơ vào đời sống xã hội và tạo được phong cách. Rất hiếm KTS sáng tạo “như một cuộc phiêu lưu”, thử nghiệm. Đa số, thường tìm đến những giải pháp an toàn với sự thỏa hiệp và cuối cùng là chiều chủ đầu tư để “phục vụ” cho cái này, hoặc cho cái kia...
Trung tâm Hội nghị Quốc gia - Mỹ Đình, Hà Nội
Nhiều người cho rằng: đừng nên sốt ruột, thời gian sẽ tự điều chỉnh v.v... Nhưng thời gian cũng sẽ vô ích nếu không có sự vận động của ý thức và ý chí con người. Đúng là kiến trúc đương đại Việt Nam đang cần có phê bình, đang cần được nhìn lại. Nhưng, sẽ không có phê bình thực sự nếu không có căn cứ học thuật. Và sẽ không thể xây dựng cơ sở học thuật thực sự nếu không bắt đầu bằng thay đổi cách nhìn về văn hóa kiến trúc…Có lẽ không cần phải viện dẫn sách “Tây”, sách “Tàu” để biện giải cho khái niệm văn hóa kiến trúc. Bất cứ ai, suy nghĩ một cách thực tế, tiếp cận kiến trúc từ cơ sở tồn tại và phát triển của nó, từ các yếu tố chi phối, tác động đến sự vận động đổi mới của nó, từ nhận thức về ý nghĩa và giá trị của nó v.v…, đều dễ dàng nhận thấy sự tồn tại khái niệm văn hóa kiến trúc là đương nhiên và cần thiết. Không có gì mới mẻ hay đáng ngờ. Đương nhiên tồn tại và cần thiết được ý thức, nhưng cho đến nay, trong thực tế, khái niệm văn hóa kiến trúc chưa bao giờ được gọi tên với một nội hàm xác định, và đây là điều đáng phải suy nghĩ!?
Trong thực tế, cách tiếp cận kiến trúc của chúng ta, từ trước đến nay về thực chất vẫn còn nhiều bất cập. Điều này có nhiều biểu hiện. Một, trong khâu đào tạo và đầu tư cho sáng tác, chúng ta quan tâm đến yếu tố kỹ thuật nhiều hơn là nghệ thuật, thời gian và số môn ngoài nghệ thụât vẫn chiếm một tỷ trọng quá lớn trong chương trình đào tạo KTS, và ở nhiều nơi cách hiểu về công trình kiến trúc cũng không hơn một công trình xây dựng thuần tuý. Hai, trong khâu đánh giá và bình chọn tác phẩm chúng ta thường chỉ quan tâm đến những giá trị cũ ít nhiều đã ổn định, thích cái vừa phải, chừng mực, và thuận mắt hơn là khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo mới về mặt hình thức nghệ thuật (đây cũng là một đặc tính của dân tộc khó thay đổi). Ba, trong khâu tổ chức hoạt động phong trào, chúng ta nhấn mạnh đến ý nghĩa quần chúng, chính trị (của nó) với phương châm “vui là chính” nhiều hơn là ý nghĩa nâng cao chất lượng chuyên môn, học thuật. Bốn, trong định hướng sáng tác, chúng ta có khuynh hướng quay về các giá trị truyền thống với những ám ảnh về “bản sắc” không dứt ra được; chúng ta quan tâm đến vấn đề làm sao cho công chúng hiểu tác phẩm nhiều hơn là đề cao cái mới, cái tiền phong. Và, năm, như một hệ quả, chúng ta buông lỏng công tác phổ cập kiến thức nghệ thuật. Cách tiếp cận này có thể chấp nhận được trong điều kiện thời chiến. Nhưng nếu kéo dài, thì thực tế, ở một khía cạnh, nó trở thành sức ì cản trở sự phát triển bình thường của cả nền văn hóa mỹ thuật nói chung và văn hóa kiến trúc nói riêng, và ở khía cạnh khác, nó tự vô hiệu hóa, khiến cho cả nền kiến trúc rơi vào tình cảnh có định hướng, có tổ chức nhưng vẫn cứ như không…
Các cấu kiện trong thức kiến trúc cổ Việt Nam
Một thực tế khác: trước các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại phương Tây lan tràn, cả một thời gian dài, bởi đồng nhất tất cả chúng trong cái gọi là “nghệ thuật tư sản - suy đồi”, nên về mặt học thuật, chúng ta chưa bao giờ tiếp cận chúng một cách có hệ thống với thái độ phân tích khách quan để tìm cái hay, cái dở. Kết quả, cho đến nay, hầu như chẳng có mấy KTS Việt Nam thực sự am tường các khuynh hướng nghệ thuật đang hấp dẫn họ. Mơ hồ, nên họ không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự tiếp thu, sáng tạo. Ngay cả với giới phê bình cũng vậy, không được tiếp cận lý thuyết một cách đầy đủ, họ không biết căn cứ trên tiêu chuẩn nào để phê bình. Còn căn cứ trên các tiêu chuẩn quen thuộc, cũ kỹ tiếng nói của họ rất dễ trở nên lạc điệu, thậm chí vô duyên trước một thực tế kiến trúc nhiều biến đổi. Trước thực tế này, nhiều người đã đặt lại vấn đề về vai trò và trách nhiệm của phê bình kiến trúc. Nhưng thực ra, phê bình kiến trúc cũng “vậy thôi”. Thậm chí còn “tệ” hơn. Hầu như chưa có trường lớp nào đào tạo chuyên ngành phê bình kiến trúc, chưa có ai được chuẩn bị chu đáo cho công việc phê bình. Trên cả nước, cũng chẳng thấy ai đủ sức đi làm cái công việc cắt nghĩa, phân biệt các giá trị nghệ thuật một cách bài bản và có hệ thống. Rất nhiều bài viết gọi là phê bình kiến trúc trên báo chí, nếu không phải là những bài mang tính chất giới thiệu, đưa tin thì cũng sa vào lối tán tụng hoặc phê phán một cách cảm tính. Nhiều bài viết đã nhầm lẫn trong việc đồng hóa cái đẹp trong nghệ thuật với cái đẹp trong cuộc sống, hay đồng hóa các giá trị thẩm mỹ với các giá trị đạo đức, luân lý v.v… Những bài viết này càng nhiều chỉ càng làm nản lòng những người muốn sống hết mình cho nghệ thuật, muốn đổi mới thực sự, và chỉ đẩy các KTS “yếu bản lĩnh” vào mê lộ, với những ham mê đầy ảo tưởng, và đẩy công chúng vào những ngộ nhận không biết đâu là nghệ thuật, đâu là phi nghệ thuật nữa…
Truyền thống mới cho kiến trúc Việt?
KTS. Hoàng Thúc Hào
Không kể những dự án kiến trúc quy hoạch (KTQH) do nước ngoài thực hiện thì dấu ấn nổi bật nhất của quy hoạch kiến trúc (QHKT) Việt đương đại là gì nếu không phải là “Kiến trúc giả cổ” và “Quy hoạch chia lô”?
Lẽ tự nhiên chúng ta sẽ hỏi: Tại sao dịch bệnh “nhại cổ” và “chia lô” thô thiển chỉ nảy sinh và bùng phát trên mảnh đất kiến trúc quy hoạch VN? Sao nó không xảy ra ở Thailan, Singapore, Trung Quốc...? Và tại sao chúng ta không kịp chế ra những Vacxin đủ sức chặn đứng các đại dịch này?
Khủng hoảng hệ thống giá trị
Xét về bản chất, có lẽ bởi chúng ta thiếu một hệ chuẩn các giá trị KTQH đủ khả năng miễn dịch. Thông thường kiến trúc phát triển theo một tiến trình, thời sau kế thừa những thành tựu của thời trước mà đi tiếp. Vậy một hệ thống giá trị phải là tinh hoa đúc kết nhiều đời, có khả năng đương đầu trước những biến động thời cuộc và làm nền tảng cho quá trình điều tiết và định hướng các bước phát triển tiếp theo.
Nhưng vì sao chúng ta đã chưa xây dựng được hệ thống các giá trị này?
Để trả lời cần một cái nhìn toàn cảnh. Phải nói trong lịch sử chúng ta từng có hệ thống giá trị KTQH. Tổng thể kiến trúc các làng đồng bằng Bắc bộ là minh chứng dễ thấy nhất: từ đường làng, cổng làng, luỹ tre, cây đa, đình làng, hệ thống hồ ao đến nhà ba gian hai chái, những gốc mít, khóm cau..., tất cả đều thống nhất kỳ lạ trong mối quan hệ về tỷ lệ, không gian, màu sắc, chất liệu. Đặc biệt một khía cạnh rất hiện đại là hệ sinh thái luôn duy trì được khả năng tự điều chỉnh và cân bằng. Song hệ giá trị đấy là sản phẩm của xã hội phong kiến phương Đông, của nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp. Nó ổn định suốt từ thời nhà Lý cho đến cuối thế kỷ mười chín, dù thiên tai địch họa liên miên. Tuy vậy, nó chỉ là hệ thống KTQH của nông thôn xưa, không phải và chưa bao giờ là hệ thống của đô thị.
Có sự đứt đoạn khi thực dân Pháp xuất hiện ở Đông Dương. Hệ giá trị KTQH của ta đầy bỡ ngỡ trước các giá trị kiến trúc đô thị phương Tây, khác xa mình. Người Pháp vào mang theo tàu hỏa, công nghệ khai mỏ, những quan niệm về đô thị và công nghệ QH hiện đại..., toàn những thứ người Việt chưa từng biết. Rồi sau đấy là hàng thập kỷ đấu tranh giành độc lập, và từ năm 1954 miền Bắc bắt đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế eo hẹp. Về KTQH chủ yếu áp dụng khuôn mẫu Xôviết và của phe XHCN, rồi đổi mới.
Tóm lại, chúng ta chưa có đủ thời gian và điều kiện cần thiết để xác lập hệ giá trị KTQH riêng. Trước là do Pháp, sau ảnh hưởng Liên Xô (cũ), miền Nam đậm dấu ấn Mỹ. Đến thời kỳ đổi mới, các trào lưu KT tràn vào như lũ. Và vì gần như chưa có sự chuẩn bị và thiếu hẳn một hệ thống chuẩn các giá trị nên hệ quả tất yếu là đâu đâu cũng đầy rẫy những sản phẩm lai căng, nhại cổ, là bệnh chia lô..., là những nạn dịch. Cái gọi là “khu đô thị mới”, “khu du lịch sinh thái” thời gian gần đây đã và đang ẩn chứa những mầm dịch nguy hiểm. Câu chuyện các văn phòng kiến trúc nước ngoài chiếm thế thượng phong trong cạnh tranh với các văn phòng nội cũng thật hiển nhiên và dễ hiểu.
Trích dẫn
Nhớ lại đầu những năm 80, dịch đá rửa đã nhấn Hà nội chìm trong một màu xám xịt, rồi “em ơi Hà nội chóp”, “ban công bụng chửa”, “thức cột, cửa vòm, con tiện”, “mái mansard”... Hàng ngàn ngàn tỷ đồng của dân bị tiêu tốn bởi hàng loạt đại dịch hình thức liên tiếp. Và sự thật đáng buồn là vùng tâm dịch luôn là Thủ đô Hà nội, nơi hội tụ tinh hoa cả nước. Đồng thời một trong những ổ phát dịch chính là khu vực kiến trúc các công sở, các cơ quan công quyền ở TW cũng như địa phương. Vì dân ta có thói quen mục sở thị, hay bắt chước. Họ thấy UBND tỉnh, quận hay trụ sở các cơ quan nhà nước rất hoành tráng, cầu kỳ. Họ tin đây là những mẫu hình lý tưởng có thể noi theo. Bởi vậy, dịch KT Pháp rởm đã lan nhanh chóng mặt, đương nhiên có sự thoả hiệp của một bộ phận không nhỏ KTS.
Hướng đến một truyền thống mới
Trước bối cảnh như vậy, KTQH Việt đương đại có khả năng kiến tạo một lộ trình nhằm thoát ra khủng hoảng?
Có khả năng tận dụng tối đa những cơ hội cạnh tranh để củng cố nội lực và từng bước xây dựng được nền móng riêng - vững chắc hay không?
Lịch sử kiến trúc đô thị thế giới ghi nhận truyền thống kiến trúc của Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, kiến trúc các thành phố thời Phục hưng: Florence, Pisa, Venice. Rồi quy hoạch kiến trúc Paris cận hiện đại, đến các thành phố đương đại của Mỹ và Châu Âu như New York, Chicago, Barcelona, Amsterdam, Berlin... Châu Á với Bắc Kinh, Tokyo, Thâm Quyến, Hông Kông, Thượng Hải..., Đông Nam Á có Kuala Lumpur, Singapore. Tất cả những thành phố có truyền thống kiến trúc nêu trên đều tồn tại một điểm chung bất biến: đó là sự cộng sinh hoàn hảo giữa vai trò của KTS- nhà QH đô thị với chủ đầu tư và vai trò quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể ở công thức hợp trội 1+1>2. Nhà QH - KTS tự do, thỏa chí sáng tạo. Chủ đầu tư văn hóa cao, tôn trọng nghệ sỹ và có khả năng cảm thụ cái đẹp. Nhà nước tạo hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ về đầu tư xây dựng, quản lý đô thị..., miễn sao cuộc sống đô thị diễn ra khoa học, thuận tiện và lãng mạn nhất, miễn sao ý tưởng của người sáng tạo có thể bộc lộ rõ ràng, trung thực nhất. Tóm lại từng yếu tố của họ đều là 1, hay nói cách khác chúng có khả năng tự hoàn chỉnh, chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cùng hướng đến đích chung. Ở ta tình hình ngược lại, sự manh mún, thiếu chuyên nghiệp, tầm nhìn hẹp, ngắn nên tất yếu 1+1<2. Các yếu tố đa phần chỉ là 0,3; 0,5, làm cách nào hợp trội?
Để ra khỏi khủng hoảng, phải thay đổi nhận thức từ gốc.
Trước tiên, nhà nước phải cho ra đời KTS Đoàn theo thông lệ quốc tế, tương tự luật sư Đoàn. Hội KTS đã soạn thảo pháp lệnh hành nghề KTS và quy chế KTS Đoàn công phu từ nhiều năm, đã làm việc với Bộ XD và có kiến nghị áp dụng thí điểm tại TP Hồ Chí Minh. Pháp lệnh này nếu được thông qua sẽ chính thức công nhận quyền sáng tạo và tự chịu trách nhiệm trước xã hội của KTS, đồng thời giảm thiểu đáng kể sự can thiệp thô bạo của những chủ đầu tư thực dụng, thiếu văn hóa vào quá trình sinh thành tác phẩm.
Kế tiếp cần phổ biến quy chế đấu thầu, thi tuyển thiết kế QH như thi tuyển công trình kiến trúc, tránh độc quyền nhà nước. Lâu nay, QH tất cả các đô thị đều do Viện QH - Bộ XD thực hiện với cùng một công nghệ lạc hậu và xơ cứng, thiếu chủ thuyết xuyên suốt. Hệ quả là hầu hết các đô thị đều na ná nhau, đơn điệu, không bản sắc. Việc cần làm là lập tức nghiên cứu, đổi mới công nghệ QH. Sao cho thích ứng với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Muốn vậy phải chọn lựa, xây dựng bằng được chủ thuyết dẫn đường.
Một điểm nữa là nếu Chính phủ sớm ra nghị định cấm UBND các tỉnh, quận xây dựng các công trình theo kiến trúc Pháp rởm thì hẳn dịch bệnh đã không bùng phát và lan nhanh đến vậy.
Tóm lại, để nền KTQH lâm vào khủng hoảng kéo dài, trách nhiệm chính thuộc Bộ XD. Và liệu KTQH có ra khỏi khủng hoảng và phát triển được hay không, trách nhiệm phần lớn vẫn thuộc Bộ XD, chính xác là phụ thuộc vào những chính sách nhà nước mà Bộ XD là cơ quan tham mưu trực tiếp.
Về phía KTS, bài học kinh nghiệm nào từ các KTS đương đại thế giới hữu ích cho Việt Nam? Những bậc thầy Hightech - siêu cấu trúc như Norman Foster, Gehry, Calatrava, Herzog De Meuron... chúng ta đành “kính nhi viễn chi”, hai - ba mươi năm nữa mới có khả năng tiếp cận. Tuy nhiên thế giới còn những đại biểu không kém phần ưu tú, những Tadao Ando, Mario Botta, Charles Correa, Glenn Murcutt... mà chúng ta có thể rút ra những bài học thiết thực. Ở những tác giả này đều có các điểm chung sau: họ làm chủ yếu công trình quy mô nhỏ và trung bình, tính kỹ thuật - công nghệ không quá phức tạp. Kiến trúc của họ đậm đặc tính địa phương đồng thời cái tính địa phương ấy lại toát ra cái toàn nhân loại. Ở Ando là những không gian riêng tư đối lập với không gian xã hội thông tin ầm ĩ bên ngoài. Botta khơi dậy nơi con người hiện đại “niềm thích thú biết ngạc nhiên”. Đặc trưng của Correa là các khu ở phổ quát cho người nghèo, người thu nhập thấp. Murcutt tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng cái thần địa điểm, “kiến trúc chạm nhẹ vào đất”, tiết kiệm năng lượng.
Vấn đề là giữa chúng ta với những KTS Ando, Botta, Correa, Murcutt khác nhau ở chỗ, chúng ta chưa thấu hiểu và làm chủ được quá trình cốt tử của sáng tạo kiến trúc như họ đã làm: đó là việc kiến tạo một ý niệm xuyên suốt trong tổ chức không gian và khả năng xử lý kỹ thuật, công nghệ và vật liệu mới tương ứng. Chúng ta chưa xây dựng được những điểm tựa tinh thần - có thể là một hình thái, một triết lý không gian của riêng Việt Nam - để từ đó chủ động khúc xạ và ứng dụng khoa học công nghệ phương Tây, chứ không chỉ bị động chạy theo để rồi luôn tụt hậu và lạc hậu. Nên chăng cần thức nhận lại khái niệm “không gian mở”, “không gian lớp”. Đã có mở tức có đóng, đã có lớp tức có cấu trúc các lớp, có sự giao thoa giữa các lớp... Và ở thời đại thế giới là ngôi làng lớn thì nhất thiết trong cái bản địa, cái rất riêng của mình phải ẩn chứa những mã thông điệp mang tính toàn cầu.
Cuối cùng, thực tế kiến trúc xây dựng vô cùng sôi động. Chúng ta, những KTS - nhà quản lý - chủ đầu tư liệu có khả năng cộng sinh thoát ra khủng hoảng? Có khả năng hợp sức đặt những viên gạch đầu tiên cho sự khởi đầu của một truyền thống mới?
Tôi tin vào sự thức nhận của các nhà quản lý trẻ, các KTS - nhà QH trẻ. Tin rằng “nhân loại chỉ đặt ra những vấn đề mà họ có khả năng giải quyết”. Song lưu ý, then chốt nằm chính ở tính trung thực của vấn đề được nêu.
(Tạp chí Tia Sáng - 01/2008)
Nhà Quốc Hội (trích bài viết của GS-KTS Ngô Huy Quỳnh)
"Đó là những năm đầu của kế hoạch 5 năm, được tiến hành khẩn trương xây dựng một công trình biểu hiện quyền lực của nhân dân trong chế độ mới của nước CHXHCNVN : Nhà Quốc Hội.
Là một công trình lớn, nên mục tiêu thiết kế gồm 3 bộ phận: phòng họp đủ cho 1500 người, nơi làm việc của Thường vụ Quốc hội 42 phòng và 24 phòng của các Tiểu ban, bộ phận thứ ba là nơi chiêu đãi, trong đó có 2200m2 bếp. Cả ba bộ phận này gắn vào nhau làm một công trình.
Nhiệm vụ thiết kế nhà Quốc hội đã được dự kiến sau khi nhà Quốc hội ở Bắc Kinh được giới thiệu trên sách báo. Công phu nghiên cứu đã dựa vào kinh nghiệm của công trình xây trước.
Kinh nghiệm tiến hành thiết kế nhà Quốc hội cho thấy rằng khi tinh thần làm chủ của cán bộ nghiên cứu và thiết kế chưa cao thì việc tham khảo kinh nghiệm nước ngoài dễ đưa đến sao chép hay rập khuôn, mặc dầu không ai muốn làm điều đó. Khi các mặt chính của công trình làm chúng ta thấy giống kiểu nhà Quốc hội ở Bắc Kinh, thì các tác giả đã đưa ra một phương án có một lầu cao ở chính giữa. Công trình trở nên đồ sộ. Điểm chóp cao nhất của công trình đã được thử đánh dấu trong không gian bằng một quả bóng chứa khinh khí, buộc vào một đầu dây và nhìn thấy khắp nơi quanh Hà Nội. Người ta cũng vui lòng nếu thấy nhà Quốc hội xây cao nhất Hà Nội. Lầu cao dự kiến có thể làm công trình rất độc đáo, nhưng các tác giả còn nghĩ dùng lầu cao này cho một việc gì?! Một sáng kiến muốn coi đây là một phòng đọc sách của Quốc hội. Tính sơ bộ, thấy nó phải tốn thêm vài triệu đồng. Vốn dành cho công trình dự kiến lúc bấy giờ là 30 triệu đồng, nên ý kiến này của các kts lúc ấy còn chưa dứt khoát.
Việc thiết kế và chuẩn bị xây dựng rất khẩn trương, nhưng Trung ương Đảng đã quyết định hoãn xây dựng nhà Quốc hội để tập trung sức người sức của vào những nhiệm vụ khẩn trương hơn của cách mạng.
Khi nhà Quốc hội tiến dần đến chỗ thi công thì đò án quy hoạch thủ đô Hà Nội, nhất là khu trung tâm của Hà Nội cũng được xác định ngày càng rõ ràng. Trung tâm Hà Nội, theo như nghị quyết số 98 của Bộ Chính trị bao gồm: "về phía Bắc từ quảng trương Ba Đình lên Ngọc Hà, Vạn Phúc, Bái Ân, Xuân Tảo, Xuân La, Nhật Tân quay xuống Quảng Bá, Nghi Tàm, Yên Phụ bao quanh hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Về phía Nam nối liền quảng trường Ba Đình với bờ sông Hồng bằng các đường lớn: Hùng Vương, Nguyễn Thái Học, Tràng Thi, Tràng TIền". Một đường lớn dự kiến mở từ quảng trường Ba Đình tiến về phía tây bắc tơi khu Quần Ngựa cũ, có sân vận động chiếm một diện tích lớn ở gần hồ Tây. Không có khó khăn đáng kể khi chọn khu vực này để đặt móng trụ sở Quốc hội. Có nhiều phương án khu trung tâm Hà Nội, lấy bình đồ kiểu trụ sở Quốc hội được xác định, có phương án bố trí mặt chính nhìn ra hồ Tây, có Phương án lại quay trụ sở Quốc hội nhìn về phía Đông và bao lấy cả khu di tích về thành nhà Lý mà bây giờ còn thấy như một số di tích Núi cung và hồ nước ở Đại Yên...Có phương án lại cho nhà Quốc hội quay về hướng Nam, nghĩa là nhìn về miền Nam, nơi đấu tranh quyết liệt chống Mỹ. Phương án khu trung tâm Hà Nội là nhằm mục đích xác định vị trí của trụ sở nhà Quốc hội, có dự kiến tương lai xây dựng các công trình lớn nằm trong khu trung tâm. Quy hoạch xây dựng khu trung tâm không dựa trên một dự kiến đầu tư nào trong kế hoạch 5 năm hay các thiết kế sau, chỉ có dự kiến đầu tư xây dựng trụ sở Quóc hội, cho nên khi hoãn việc xây dựng trụ sở Quốc hội thì tự nhiên quy hoạch khu trung tâm lúc bấy giờ không ai muốn làm nữa.
Nếu có một số tốn kém thì có thể thấy ở việc thiết kế công trình nhà Quốc hội, còn quy hoạch khu tring tâm đã vạch ra nhiều phương án, nhưng cũng chưa có bản đồ đồng mức đo đạc trước. Cả thiết kế công trình, cả thiết kế quy hoạch đã làm mà không có khảo sát địa chất công trình. Cho nên khi phát hiện những mảng bùn lầy ở độ sâu 4.5m thì bình đồ nhà Quốc hội đã xong rồi, chỉ cần xê dịch một chút là toàn bộ đồ án quy hoạch bị thay đổi hoàn toàn. Quy hoạch phải phục vụ kịp thời, có khi chỉ cần một thời gian rất ngắn là đã có một dự kiến phương án trung tâm. Không mấy khi công tác quy hoạch lại có yêu cầu khẩn trương mà lại ít tốn kém như vậy. Đặc điểm của tinh thần làm việc thiết kế quy hoạch và kiến trúc trong những năm 60 là phục vụ vô điều kiện của cán bộ kỹ thuật, kiến trúc và quy hoạch trong ngành kiến trúc và xây dựng."
Nhà Quốc hội Trung Quốc
Nhà Quốc hội Việt Nam vừa phá bỏ để xây mới
Phạm vi khu đất xây dựng hội trường Ba ĐÌnh mới
Nguồn: http://dantri.com.vn/Sukien/Thu-do-Ha-oi-moi-se-co-tam-khu-vuc/2008/5/234869.vip
(Dân trí) - Quốc hội ngày 29/5 đã thông qua việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội. Hà Nội mới và những vấn đề cần làm ngay, mô hình không gian của Hà Nội tương lai sẽ như thế nào?.
Kiến trúc sư Ngô Trung Hải, Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn (Bộ Xây dựng), người Chủ trì nghiên cứu Đề án quy hoạch Thủ đô Hà Nội mở rộng sẽ cho bạn đọc hiểu hơn về vấn đề này.
Việc đầu tiên cần phải làm khi Quốc hội thông qua việc mở rộng Hà Nội là vấn đề về tổ chức. Cụ thể là thành lập ngay bộ máy cho Thủ đô mới trên cơ sở hợp nhất bộ máy của các địa phương khi sáp nhập.
Theo định hướng trong đề án của Chính phủ thì bộ máy chính quyền mới có một số thay đổi, hợp nhất ở cấp Sở trở lên. Còn từ cấp quận, huyện trở xuống thì vẫn giữ nguyên.
Duy chỉ có 4 xã thuộc huyện Lương Sơn (Hoà Bình) thì chắc sẽ có sự thay đổi. Có thể lập thành huyện mới hoặc nhập vào một huyện nào đó. Theo tôi thì nhiều khả năng sẽ nhập vào các huyện liền kề.
| Thủ đô Hà Nội mở rộng có tổng quy mô diện tích tự nhiên là khoảng trên 3300 km2 , tổng quy mô dân số là hơn 6 triệu dân, trong đó gần 2,5 triệu dân đô thị (40%).
Thủ đô Hà Nội mở rộng quy hoạch đến năm 2030 và hướng tầm nhìn 2050 là Thủ đô biểu trưng của quốc gia, một đô thị hiện đại năng động và hiệu quả, trung tâm hành chính, chính trị quốc gia, một trung tâm lớn của quốc gia về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế có tầm khu vực châu Á Thái Bình Dương. |
Việc thứ hai cần phải làm là lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo và kế hoạch ngân sách năm 2009 để trình Quốc hội phê duyệt. Việc này sẽ phải do bộ máy của Hà Nội mới đảm trách. Tất nhiên là UBND TP sẽ không trình Quốc hội mà là trình Chính phủ để Chính Phủ tổng hợp trình Quốc hội.
Việc thứ ba là lập đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô mở rộng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050. Đáng ra bộ máy chính quyền mới của Hà Nội sẽ phải đảm nhận thực hiện nhiệm vụ này.
Tuy nhiên do bộ máy của Hà Nội mở rộng mới sẽ chưa thật sự ổn định, hơn nữa việc mở rộng Thủ đô là việc trọng đại, của cả nước nên Chính phủ sẽ ủy quyền cho Bộ Xây dựng và một số bộ, ngành liên quan phối hợp với Hà Nội thực xây dựng quy hoạch.
“Nếu được Chính phủ giao thì rất có thể Viện chúng tôi sẽ đơn vị được Bộ Xây dựng giao vai trò đầu mối, tổ chức việc lập vì chúng tôi đã tham gia từ đầu đề án này” - ông Hải cho biết.
Theo định hướng của Chính phủ thì việc xây dựng quy hoạch chung của Hà Nội mở rộng sẽ huy động mọi ý kiến đóng góp của các tổ chức, các chuyên gia, nhân dân trong nước cũng và sẽ thuê cả tư vấn nước ngoài tham gia.
Chúng tôi sẽ mời tham gia ý kiến của xã hội ngay từ khi những khâu xây dựng chứ không phải là làm xong mới đem ra trưng bày và lấy ý kiến. Khi có sản phẩm chúng tôi sẽ tiếp tục triển lãm để lấy ý của người dân.
Đặc biệt, theo định hướng của Chính phủ thì khi có phương án quy hoạch sẽ gửi xin ý kiến của Quốc hội mặc dầu theo quy định pháp luật hiện hành thì quy hoạch là thẩm quyền của Chính phủ.
Ông Ngô Trung Hải.
Một số dự án quy hoạch cũ không phù hợp với quy hoạch tổng thể chung của Hà Nội mở rộng sẽ không được thực hiện. Hiện nay chưa có quy hoạch của Hà Nội mở rộng nhưng theo định hướng của Chính phủ thì các khu đô thị chức năng sẽ được quy hoạch chặt chẽ, không thể chấp nhận tình trạng “da báo”.
Ví dụ, đã có khu đô thị về đại học thì tất cả các trường đại học sẽ phải đưa vào đó chứ không thể là để mỗi nơi một vài trường và đã là quy hoạch dân cư thì phải đưa vào thành một vùng có quy mô vài chục vạn, cũng như không quy hoạch vùng nông nghiệp trọng điểm thì không thể chấp nhận có một vài nhà máy, dự án nằm rài rác ở giữa.
Những dự án, quy hoạch không phù hợp với quy hoạch chung thì sẽ phải thu hồi đất chứ không phải là cho thay đổi loại hình dự án cho “giông giống” với chức năng của vùng đó.
Nếu được Chính phủ giao làm đầu mối trong việc tổ chức xây dựng quy hoạch chung của Hà Nội mở rộng, chúng tôi dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm nay, chậm nhất là cuối năm 2009. Trung tâm Hà Nội hiện nay sẽ trở thành vùng đô thị bảo tồn, có tính chất lịch sử văn hóa truyền thống.
Về mô hình không gian trong thời gian tới. Theo định hướng chung thì Hà Nội mới phải là một Thủ đô đa chức năng. Điều này cũng có nghĩa là Thủ đô mới sẽ có những khu hành chính, thương mại, văn hoá, khoa học… Theo đề án mà chúng tôi xây dựng trình Chính phủ và báo cáo với Quốc hội thì Thủ đô sẽ có hai phần.
Bản đồ định hướng phát triển không gian
Vùng đô thị cũ hiện hữu (nội đô Hà Nội hiện nay) là khu vực sẽ trở thành vùng đô thị bảo tồn, có tính chất lịch sử văn hóa truyền thống. Khu vực này vẫn tiếp tục cải tạo chỉnh trang và hoàn chỉnh cảnh quan đô thị nhằm cải thiện môi trường khu vực trung tâm thực sự là hình ảnh tiêu biểu của Thủ đô.
Vùng phát triển mở rộng có ngưỡng đến vùng thoát lũ sông Đáy (vành đai 4) tạo vùng giãn dân cho trung tâm, phát triển các khu đô thị xen kẽ với không gian mở, kết hợp công viên, vành đai xanh và trục mở để đưa những khoảng cây, công viên rừng (tạo sự kết nối từ rừng Quốc gia Ba Vì về trung tâm cũ Hà Nội).
Khu vực này cần được kiểm soát chặt chẽ tránh tình trạng phát triển lan tỏa từ trung tâm và xây dựng ồ ạt bám xung quanh vành đai vùng 4, các dự án khu đô thị mới phá vỡ không gian cây xanh và vành đai xanh quanh Hà Nội cũ.
Về phía Bắc, vùng mở rộng đô thị, phát triển trung tâm đô thị bắc sông Hồng về giao dịch, thương mại, tài chính, văn hóa giải trí, gắn vùng cửa ngõ tiếp vận quốc gia Nội Bài với các đô thị hàng không Nội Bài, Mê Linh, Sóc Sơn và các trung tâm công nghiệp phía bắc gắn trục Côn Minh - Hạ Long.
Mô hình cấu trúc phát triển không gian Hà Nội mở rộng
Về phía Tây, vùng đô thị Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai liên kết phát triển các trung tâm mới cấp độ quốc gia. Đô thị Hòa Lạc (dự kiến 85 vạn dân năm 2050) phát triển khu hành chính quốc gia, trung tâm nghiên cứu khoa học, khu công nghệ cao, các trung tâm văn hóa giải trí lớn mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế, các khu đô thị mới hiện đại.
Đô thị Sơn Tây, đô thị cũ (dự kiến 60 vạn dân năm 2050) phát triển theo hướng tôn tạo các khu vực lịch sử như làng cổ Đường Lâm, Thành cổ Sơn Tây, các làng nghề truyền thống, phát triển khu vực ươm trồng cây cảnh phục vụ cho Thủ đô và vùng, phát triển dịch vụ du lịch.
Đô thị Xuân Mai (dự kiến 85 vạn dân năm 2050) phát triển theo hướng trở thành một trung tâm đào tạo đại học (gắn với trục Thanh Xuân - Hà Đông - Xuân Mai, tạo thành chuỗi đô thị đại học), trung tâm thể thao quốc gia, khu vực tập trung đất dành cho quốc phòng...
Tuấn Hợp
nguồn: http://dantri.com.vn/diendandantri/Cach-ung-xu-trong-vu-sap-tran-Caravelle/2008/12/263496.vip
Nhiều khách hoang mang vì không có một thông báo chính thức nào về vụ tai nạn tại KS Caravelle. (Ảnh: Công Quang)
Vụ sập một phần trần sảnh khách sạn 5 sao Caravelle Sài Gòn tối 6/12/2008 có thể do chập điện, không có người chết và vụ việc có thể không đến nỗi nghiêm trọng trong suy nghĩ của mọi người, nếu như cách xử lý của những người có thẩm quyền nhạy bén hơn.
Chị Juddy, du khách Singapore đi nghỉ cùng gia đình nhóm 10 người vừa nhận phòng khách sạn trong chiều cùng ngày. Đứng trước nhà hát Thành phố lúc 22h30, chị cho biết vừa ra khỏi khách sạn độ 15 phút, thì nghe có tiếng nổ, chị quay lại, nhưng không được phép vào khách sạn, trong khi hai người con của chị vẫn đang ở trong khách sạn. Chị tìm cách liên lạc theo số điện thoại của khách sạn để gọi hai người con ra ngoài. Họ cho biết, khách sạn không có chuông báo động, và sau vụ nổ 45 phút, chị và gia đình vẫn luẩn quẩn ở hàng rào bảo vệ an ninh, mà không gặp một nhân viên khách sạn, hay một ai đó có thể hướng dẫn.
Cũng thời điểm đó, nhiều khách ở tầng cao vẫn không biết việc gì đang diễn ra dưới tầng trệt, sau khi họ nhìn qua cửa kính khách sạn, thấy lực lượng cảnh sát và cứu hoả đang bám dày đặc phía dưới.
Từ 22h45, hàng rào bảo vệ an ninh được nới rộng thêm, bao quanh toàn bộ quảng trường trước nhà hát Thành phố, và khách sạn vẫn không có người có trách nhiệm phát ngôn chính thức để giải thích về vụ việc đã xảy ra nhằm trấn an khách hàng của mình, do đó nhiều người đã hoảng loạn.
Chị Juddy cùng gia đình trở vào khách sạn, lại bị công an ngăn cản. Người công an làm nhiệm vụ nói đây là lệnh của cấp trên, cấm mọi người ra vào, trừ công an làm nhiệm vụ. Một số phóng viên ghi hình trong khu vực bị mời về phường làm việc, hoặc phải xoá dữ liệu trong thẻ nhớ vì tác nghiệp trong khu vực chưa được cho phép. Hơn nữa, do bất đồng ngôn ngữ giữa du khách nước ngoài với công an, nên sự việc trở nên tồi tệ. Nhân viên khách sạn cũng trở thành người ngoài cuộc trước quyết định của lực lượng công an.
Mãi đến khi du khách nước ngoài tụ tập ngày càng đông đòi trở vào khách sạn, công an mới giải quyết cho những ai có chìa khoá phòng mới được vào, nhưng không có mấy ai đem theo chìa khoá phòng lúc đi ra ngoài, lệnh phải nới rộng thêm, rốt cùng ai cũng có thể vào.
Chính do không thông tin kịp thời về vụ việc vừa xảy ra, do thiếu sự phối hợp giữa công an và nhân viên khách sạn, nhiều vị khách của khách sạn Caravelle cảm thấy bất an, và họ đã quyết định làm thủ tục trả phòng.
Lúc 23h45, ba vị khách Nhật rời khỏi lối đi phụ của khách sạn Caravelle, họ cho biết lý do họ rời khỏi khách sạn là vì không có nhà chức trách nào giải thích về vụ việc đã xảy ra. Họ đã nghe tiếng nổ giống như sấm, nhìn xung quanh thấy hiện trường đầy cảnh sát và người hiếu kỳ phía trước sảnh khách sạn, mà không biết chuyện gì đã diễn ra.
Rải rác sau đó, các vị khách khác lần lượt trả phòng, rời khỏi khách sạn. Cô Huong Nguyen - tên ghi trên hành lý - một Việt kiều trở về từ Pháp, cùng chồng hớt hải xách hành lý ra khỏi khách sạn lúc 12h đêm, nói: “Chúng tôi ở trong phòng, không biết chuyện gì đã xảy ra trong khách sạn, nghe người nhà gọi đến có vụ nổ ở tầng trệt, nên vội làm thủ tục trả phòng, ra khỏi khách sạn cho chắc ăn”.
Vụ việc sập trần khách sạn Caravelle diễn ra tại ngay trung tâm thành phố, những khách trú trong khách sạn đa phần là người nước ngoài, một số ít là Việt kiều, do đó, họ cần phải được giới chức trách sớm thông báo rõ vụ việc vừa xảy ra nhằm tránh hoảng loạn không đáng có. Hình ảnh những chiếc xe cứu hoả, lực lượng công an rào chắn dày đặc, phóng viên ảnh tác nghiệp, những nhân viên của khách sạn thoát ra ngoài với vẻ mặt hốt hoảng…, nếu không có sự giải thích rõ ràng kịp thời, sẽ dễ dẫn vụ việc từ một tai nạn thông thường, sang sự hiểu lầm tai hại hơn như âm mưu khủng bố, hay một vụ nổ nghiêm trọng.
Mặt khác, dưới góc độ kinh doanh và cả quản lý nhà nước, ngay khi khách đã trả phòng, nghĩa là khách sạn hết... nghĩa vụ, cũng phải thấy rằng sự ra đi vào lúc nửa đêm của họ như vậy là... bất đắc dĩ. Khách sạn Caravelle hay lực lượng hữu quan về du lịch cần có sự hướng dẫn cho khách, ít nhất là trong việc tìm khách sạn khác.
Theo Nguyễn Đình - Mỹ Lệ
Sài Gòn tiếp thị
Nguồn: http://vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/12/818956/
Có dịp sang Paris, tôi hiểu “kinh đô ánh sáng” này có sức thu hút khách du lịch rất nhiều, một phần nhờ các quán cafe và cửa hàng ăn vỉa hè, các ban nhạc biểu diễn trên vỉa hè và cả “triển lãm tranh nghệ thuật” trên vỉa hè nữa… Và tôi nghĩ nếu tổ chức bán hàng rong thật tốt, người nghèo ở Hà Nôị làm nghề này sẽ không bị nghèo nữa.
Chuyện xa xưa…
Chuyện xảy ra đã 30 năm rồi, đó là lần đầu tiên tôi đến thành phố Budapest. Ngày đó quan hệ Đông - Tây chưa mở cửa, có một chuyến đến được Paris hoa lệ còn rất khó khăn, có tiền cũng không đi được. Nhưng đến Budapest thì dễ dàng hơn, kể cả thủ tục xin visa lẫn tiền tàu xe. Mọi người bảo Budapest là “Paris của Đông Âu”, thành phố cổ kính, đẹp và trữ tình, nên tôi quyết phải đi cho biết. Năm đó đang học ở Dresden, đến dịp tết Noel, tôi rủ một anh bạn Việt kiều Anh bay từ London sang, cùng tôi đi chơi thành phố “Paris của Đông Âu”.
Đêm Noel, mới hơn 6 giờ tối mà sân ga đã vắng vẻ, không thấy có taxi. Chúng tôi loay hoay tìm lối ra trạm xe điện thì một chiếc taxi đi tới. Mừng quá, chúng tôi vội lên xe. Người lái taxi là một anh chàng đẹp trai, khoác một bộ cánh đại lễ rất sang trọng. Anh ta cẩn thận xếp hành lý của chúng tôi lên taxi rồi nhẹ nhàng cho xe lăn bánh.
Lâu ngày mới gặp nhau, chúng tôi tíu tít nói đủ thứ chuyện. Chẳng mấy chốc, xe đã đến ký túc xá của nghiên cứu sinh. Đồng hồ trên xe báo đã đi được 9km và phải trả 12 forint (tiền Hungary lúc đó). Tôi lục ví định lấy ba tờ 5 forint để trả, nhưng bạn tôi với tư cách là chủ nhà, đã vội rút tờ 500 forint ra đưa cho lái xe. Anh ta cầm tờ 500 forint cho vào túi áo, giơ tay chào chúng tôi và nói: “Thank you”, rồi chậm rãi nổ máy, cho xe lăn bánh đi mất.
Chúng tôi ngơ ngác không hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Vào đến ký túc xá thì mọi người mới cho hay rằng: Tục lệ ở đây vào đêm Noel, phần đông các lái xe chuyên nghiệp đều nghỉ ở nhà. Người đi lái thay thường làm nghề khác, họ đi lái taxi là để hưởng thú vui, nếu bạn đi xe mà không có tiền trả hoặc thiếu tiền, họ sẵn sàng cho bạn thiếu, như thế là họ được thay mặt Chúa ban phước lành cho một người cơ nhỡ.
Nếu bạn trả tiền thừa thì họ sẽ không bao giờ trả lại, vì “lộc” đó là Chúa ban cho. Bạn tôi đã trả đồng tiền trị giá gấp hơn 40 lần số tiền phải trả, đó là “lộc lớn” mà Đức Chúa đã xui bạn tôi ban cho anh ta, anh ta sẽ có một đêm Noel rất hạnh phúc. Chúng tôi hơi tiếc vì lương bạn tôi lúc đó chỉ có hơn 3000 forint, hơn nữa không ai lại “boa” kiểu đó, nhưng kỷ niệm “hớ” đó làm chúng tôi nhớ mãi.
Ngày hôm sau chúng tôi lại bị “hớ” lần nữa: Budapest có dòng sông Danube nổi tiếng chảy qua, bên này là thành Buda, bên kia là thành Pest, vơí những cái cầu tuyệt đẹp và có rất nhiều nơi đáng để tham quan. Chúng tôi quyết định đến thăm các viện bảo tàng và lên tượng Tự do trên đỉnh núi nhìn xuống sông Danube. Đường đi quanh co và phải leo dốc, rất mỏi chân.
| Sau này hỏi ra mới biết loại ăn uống vỉa hè này khá đắt và kén khách, bởi vì người kinh doanh phải thuê những góc tường thành này với giá cao, mà phục vụ không được nhiều khách, dọn vệ sinh lại nghiêm ngặt. Chỉ có khách du lịch loại “xịn” mơí dám vào đó, khách bình thường đều ăn ở quán tự phục vụ mà thôi. Thế là chúng tôi có thêm bài học nữa về lối kinh doanh “móc túi khách du lịch” ở thành phố “Paris phiá Đông” này. |
Trưa hôm đó chúng tôi dùng bữa ở một quán ăn nhỏ xíu dưới chân thành Var. Rút kinh nghiệm vụ mất 500 forint hôm trước, hôm nay chúng tôi chỉ dám ăn trưa trong một quán ăn nhỏ khiêm tốn bên hè đường mà thôi. Chúng tôi ngồi xuống những chiếc ghế đá đặt quanh một cái bàn gỗ cũ kỹ.
Người phục vụ, trong bộ đồng phục màu đen thắt chiếc nơ đỏ nơi cổ áo, mang đến cho mỗi chúng tôi một cốc vại bằng gỗ đựng bia đen và cái bánh mỳ kẹp thịt. Đi rất mệt và rất đói, tất cả đều ăn hết khẩu phần của mình. Đến lúc trả tiền, một lần nữa chúng tôi ngớ ra vì số tiền cho bữa trưa đó đắt gấp đôi một bữa tương tự ở cửa hàng ăn lớn.
Sau này hỏi ra mới biết loại ăn uống vỉa hè này khá đắt và kén khách, bởi vì người kinh doanh phải thuê những góc tường thành này với giá cao, mà phục vụ không được nhiều khách, dọn vệ sinh lại nghiêm ngặt. Chỉ có khách du lịch loại “xịn” mơí dám vào đó, khách bình thường đều ăn ở quán tự phục vụ mà thôi. Thế là chúng tôi có thêm bài học nữa về lối kinh doanh “móc túi khách du lịch” ở thành phố “Paris phía Đông” này.
Kỷ niệm đầu tiên đó khiến tôi không bao giờ quên được một thành phố không chỉ đẹp ở cái vẻ bên ngoài mà còn biết cách khai thác những nét rất riêng, khiến cho du khách dù có bị cháy túi vẫn thấy thích thú mỗi khi nhắc tới.
Về sau có dịp sang Paris, tôi hiểu “kinh đô ánh sáng” này có sức thu hút khách du lịch rất nhiều, một phần cũng nhờ các quán cafe và cửa hàng ăn ở vỉa hè, các ban nhạc biểu diễn trên vỉa hè và cả “triển lãm tranh nghệ thuật” trên vỉa hè nữa. Tôi đi dạo trên bờ sông Seine để xem họa sĩ lang thang vẽ tranh, rồi tìm mua một chiếc kem que của một ông lão ăn mặc rách rưới bán rong với giá hai euro.
Trong số tiền đó, một nửa trả cho que kem, còn nửa kia, trả cho cảm giác thích thú được ngắm ông lão "trông như ăn mày" giữa một thành phố hoa lệ. Ai đó nói với tôi, đó là một diễn viên, có thể là một chàng trai trẻ hóa trang mà thành. Tôi thích thú mút chiếc kem và nghĩ đến Hà Nội. Tôi đã có quá nhiều kỷ niệm về những quán hàng rong, những tiếng rao đêm, những bữa ăn khuya bên vỉa hè Hà Nội và tôi nghĩ, nếu tổ chức bán hàng rong thật tốt, người nghèo ở Hà Nôị làm nghề này sẽ không bị nghèo nữa.
…Và chuyện hôm nay
Hà Nội của ta cấm hàng rong trên nhiều tuyến phố đã được gần nửa năm. Chủ trương cấm hàng rong là đúng vì hàng rong thời kinh tế thị trường này dễ trở nên xô bồ, nhếch nhác và bẩn thỉu quá. Do người bán hàng rong không phải thuê chỗ ngồi, không phải đóng thuế, nên người ta tùy tiện buôn bán đủ thứ, miễn là có người mua và thu được lãi.
Có bà chỉ đeo chiếc bị cói, trong đó để khoảng năm chục chiếc bánh rán nóng, đi một vòng qua vài ba phố là hết. Mỗi ngày bà bánh rán đi vài lần như thế, cũng “tạm đủ rau dưa”.
Thế nhưng, cũng có những anh chàng hoặc những cô nàng khoẻ mạnh thồ trên xe đạp cả một cửa hàng tạp hoá: từ quần áo vải vóc, đến kim chỉ, gương lược, khăn mặt, thuốc đánh răng, xà phòng… Có người còn thồ trên xe đạp hai sọt cồng kềnh chở đầy những “chiếu Nga Sơn”, “gốm Bát Tràng”… khiến người qua kẻ lại mất hết lối đi, chẳng may họ va phải nhau làm vỡ cái bình gốm, thì cuộc cãi cọ chửi bới nhau diễn ra ồn ào trước mặt người qua kẻ lại. Thật xấu hổ!
Sáu tháng qua, hàng rong bị dẹp đi, bớt đi nhiều chuyện chướng mắt, nhưng cũng khiến nhiều tuyến phố trở nên vắng vẻ và buồn tẻ lạ lùng. Tôi nhớ năm xưa, mỗi khi trời về đêm, nhất là đêm đông, thì những ông hàng phở gánh, những bà bán bánh khúc, những ông lão mù tẩm quất… vẫn văng vẳng cất tiếng rao trong các phố.
Bọn con gái thì xúm xít quanh hàng ngô nướng hoặc mẹt bánh đa. Không những chỉ có người Hà Nội, mà “người Tây”, kể cả Tây ba lô lẫn Tây công chức, đều rất thích ăn quà kiểu hàng rong này. Tôi có anh bạn kiến trúc sư người Canada gốc Pháp, đã từng cùng vợ sống ở Hà Nội ba năm. Anh làm việc với chúng tôi, với tư cách là CTA (cố vấn trưởng kỹ thuật) của một dự án do UNDP tài trợ.
Những năm đó, tôi là thư ký dự án và được coi là “sành sỏi” các món ăn dân dã của Hà thành nên hay được cử đi tổ chức những “bữa tiệc vỉa hè”, sang thì có gà tần thuốc bắc ngõ Cấm Chỉ, nghèo thì có mẹt bún ốc đầu đường Thanh Niên với bát nước chấm đủ vị: dấm, tỏi, mắm nhĩ, lá chanh, ớt và gừng…Nhưng đặc biệt, bạn tôi rất thích khoai lang nướng.
| Có lẽ thành phố chúng ta nên xem xét và tổ chức lại cho tốt hơn, sạch sẽ hơn và trật tự hơn. Thời gian qua, có nhiều ý kiến nói đến những cụm từ rất chua chát rằng: “Cấm hàng rong là đá bát cơm của người nghèo”. Cụm từ đó chỉ đúng một nửa thôi, tôi cho rằng: “Cấm hàng rong là làm mất một nét đẹp của văn hoá và làm mai một tài năng của những nghệ nhân trong làng ẩm thực Hà thành”. Một khi đã nói đến “nét đẹp văn hoá” thì không nhất thiết là của người giầu hay người nghèo và không nhất thiết phải thật rẻ mới có người mua? Vậy nên tổ chức lại ra sao? Quy định mặt hàng nào và giờ nào hàng rong bị cấm và giờ nào thì được vào thành phố? Người bán hàng rong phải ăn mặc ra sao? Có được dùng quang gánh hay thồ xe đạp, hoặc xe đẩy không…? |
Mỗi lần sang VN gặp lại chúng tôi, bạn tôi hay nhắc đến những củ khoai lang nướng “ứa đầy mật”, nóng bỏng, ngọt lịm, mà chúng tôi từng “chiêu đãi” vợ chồng anh năm xưa. Bây giờ gặp lại nhau, chúng tôi có thể mời vợ chồng anh đi nhà hàng, còn món khoai lang thì phải tự đi mua, tự nướng, rồi vùi tro, mất công lắm mà không ngon chút nào.
Vậy là Hà Nội mất đi một nét đẹp “rất Hà Nội” rồi sao?
Mùa đông đã đến, gió lạnh đã thổi về, tôi lên đê sông Hồng chọn mua hơn hai chục bắp ngô nếp, loại để nướng, loại để luộc và loại ngon nhất để nấu chè ngô bao tử. Rẻ quá, chỉ tiêu hết có 30 ngàn đồng, mà bọn trẻ nhà tôi tha hồ thể hiện trò khéo tay trong ngày Chủ nhật. Nhưng chỉ được một bữa no nê, muốn có bữa nữa thì phải chờ tuần sau.
Tôi bỗng nhớ đến bà bán chè ngô bao tử ở góc đường Trần Phú dạo trước. Một bát chè ngô thơm ngon, tinh khiết của bà chỉ bỏ vốn không đến một ngàn đồng, bà bán ba ngàn mà ai cũng khen rẻ. Chẳng thế mà bà vừa bày ra thì “Tây và ta” đều xúm lại ăn hết veo. Nếu hôm nay nồi chè của bà lại xuất hiện, tôi nghĩ, dù giá cao lên gấp mấy lần thì vẫn có nhiều người xúm vào và vẫn hết veo.
Hàng rong bán quần áo, nồi niêu, soong chảo, chăn chiếu…thì chẳng nên khôi phục chút nào. Những mặt hàng đó nhất thiết phải đưa vào chợ để người mua chọn lựa kỹ càng. Ai cũng hiểu rằng mua bán kiểu qua đường thì rẻ hơn nhưng chất lượng rất kém, vì là hàng nhái và vì đó là hàng trốn thuế.
Nhưng còn hàng ăn? Có lẽ thành phố chúng ta nên xem xét và tổ chức lại cho tốt hơn, sạch sẽ hơn và trật tự hơn. Thời gian qua, có nhiều ý kiến nói đến những cụm từ rất chua chát rằng: “Cấm hàng rong là đá bát cơm của người nghèo”. Cụm từ đó chỉ đúng một nửa thôi, tôi cho rằng: “Cấm hàng rong là làm mất một nét đẹp của văn hoá và làm mai một tài năng của những nghệ nhân trong làng ẩm thực Hà thành”.
Một khi đã nói đến “nét đẹp văn hoá” thì không nhất thiết là của người giàu hay người nghèo và không nhất thiết phải thật rẻ mới có người mua? Vậy nên tổ chức lại ra sao? Quy định mặt hàng nào và giờ nào hàng rong bị cấm và giờ nào thì được vào thành phố? Người bán hàng rong phải ăn mặc ra sao? Có được dùng quang gánh hay thồ xe đạp, hoặc xe đẩy không…?
Có rất nhiều câu hỏi sẽ được đặt ra và cần các nhà quản lý Thủ đô trả lời sau khi đã nghiên cứu kỹ. Ai cũng hiểu rằng cấm cho yên chuyện thì dễ, chỉ cần mấy anh công an hay đội cờ đỏ đi “xua” là xong.
Nhưng không cấm mới là khó và việc gì khó mà làm được mới hay. Và nếu thành công, Hà Nội vẫn giữ được một nét văn hóa ẩm thực dễ thương. Ví dụ như quán cafe vỉa hè đắt nhất và sang nhất Hà Nội hôm nay là La Terrasse du Metrople ở góc đường Lê Phụng Hiểu và Ngô Quyền. Hà Nội có thể có nhiều quán như thế hoặc đẹp hơn thế. Tại sao không?
KTS. Trần Thanh Vân